Chuyện cũ Hà Nội tập 1

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 15h:51' 23-11-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Vương Thị Thu Hà
Ngày gửi: 15h:51' 23-11-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Lời giới thiệu
Năm v a qua, Chuyện cũ Hà Nội đã đư c Ủy ban nhân dân
Thành phố Hà N i tặng giải thưởng Thăng Long 1997-1998. Thật
x ng đáng, vì trong khoảng chục năm trở lại đây, Chuyện cũ Hà Nội
là m t tập ký s thật đặc sắc về đề tài Hà N i.
Có thể coi đó là m t th Vũ Trung tùy bút thời hiện đại, vì v i
nh ng mẩu chuyện không dài, Tô Hoài v i tư cách m t ch ng nhân
đã ghi lại “muôn mặt đời thường” của cái Hà N i thời thu c Tây. Tuy
m i qua sáu, bảy chục năm mà dường như không mấy ai nh n a,
thậm chí đã trở thành chuyện đời xưa.
Chuyện cũ Hà Nội ở lần xuất bản đầu tiên vào năm 1986 m i
chỉ có bốn chục truyện. T i lần tái bản này sách gồm 114 chuyện.
Không gian đư c mở r ng, thời gian đư c dãn dài, chuyện đời,
chuyện người phong phú lên nhiều. Điều đáng nói trư c hết là ở lần
in đầu, có lẽ nặng lòng v i vùng quê ven đô sâu nặng ân tình nên
các câu chuyện cũng nghiêng về nh ng miền đất ngoại ô. Nay thì cả
m t n i thị Hà N i dàn trải trong tập sách: Băm sáu phố phường, Cái
tàu điện, Phố Mới, Phố Hàng Đào, Phố Hàng Ngang, Phố Nghề, Hội
Tây, Bà Ba (Bé) Tý, Tiếng rao đêm, Cơm đầu ghế, Chiếc áo dài,
Ông Hai Tây, Cây Hồ Gươm v.v. Chỉ nêu vài tên bài như thế cũng
thấy s hiện diện đa dạng của cái n i thành đa đoan lắm chuyện.
Phố Hàng Đào v i nh ng “m Hai” khinh khỉnh, vàng ngọc đầy cổ
đầy tay, phố Hàng Ngang v i nh ng chú tây đen thờ l n, chủ hiệu
vải, sinh hoạt bí hiểm song cũng đa tình, Phố M i có nhà cầm đồ
Vạn Bảo “l t da” dân nghèo, có cả ch đưa người, m t th ch môi
https://thuviensach.vn
gi i thuê mư n – cả mua bán – nh ng vú em, thằng nhỏ, con sen…
nh ng thân phận nghèo hèn đem thân làm nô b c cho thiên hạ.
Rồi cái tầu điện leng keng, nh ng ngày H i Tây bên bờ Hồ
Gươm, nh ng tà áo dài t thuở thay vai và nhu m nâu Đồng Lầm
đến áo Lơ Muya sặc s mốt thời trang m t thời…
Cái hay ở Tô Hoài là nh ng cái lăng nhăng sự đời ấy (ch
của Tản Đà) đã có ít nhiều người ghi lại. Chuyện ông Hai Tây làm
xiếc, Bà Bé Tý lên đồng… sách báo đã t ng đề cập. Nhưng lần này
Tô Hoài lại nhìn ra nh ng nét hoạt kê m i; hay cũng đã nhiều người
viết về quà Hà N i nhưng các bài Chả cá, Bánh cuốn, Phở của Tô
Hoài có nh ng thông tin hay, m i mẻ, ngay như Nguyễn Tuân cũng
chưa phát hiện hết. Cũng như các loại tiếng rao hàng ban đêm thì
Thạch Lam đã ghi chép vậy mà ở Tiếng rao đêm của Tô Hoài vẫn có
nhiều ý t m i.
Như vậy đó, v i vài nét ký họa, Tô Hoài đã vẽ đư c cái thần
thái của m t thành phố nghìn tuổi đang đô thị hóa gấp gáp trở thành
n a Tây n a ta, n a cũ n a m i, n a sang n a quê…
Có m t Hà N i nhố nhăng như thế thì cũng có m t Hà N i lầm
than.
Cảnh lầm than ấy càng rõ nét hơn ở các làng quê ven n i. Th
c i, th giấy làm quần quật ngày đêm mà vẫn đói khổ, rồi nạn Tây
đoan sục bắt rư u lậu và nh ng người dân lành đói khổ phải nhận đi
“tù rư u thay” để v con ở nhà có người chu cấp. S bần cùng ấy
hằn sâu nhất trong chuyện Chết đói. Nạn đói năm 1945 đã làm v i đi
của làng Nghĩa Đô bao người. Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao
nếu không có m t người quen ý t trả công dạy học lũ con ông ta
bằng gạo thì “không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh
hay dì Tư không, hay còn thế nào n a”.
https://thuviensach.vn
Nh ng câu chuyện “tang thương ngẫu lục” ấy đủ giúp bạn đọc
trẻ nhận thấy thời nay hơn hẳn thời cũ, cu c sống khá giả hơn trư c
nhiều lắm. Cho nên nói chuyện cũ mà tư tưởng sách không hề cũ.
Trong sách còn m t mảng kể về phong tục. Nhiều cái nay
không còn. Như các đám múa sư t thì đêm Rằm Trung Thu ở
nh ng phố Hàng Ngang, Hàng Đường và đánh nhau chí t , quang
cảnh nh ng ngày áp tết dường như cả nư c kéo về Hà N i… Ở ven
đô thì h i hè đình đám, khao vọng, đám ma… Các bài Làm ma khô,
Thẻ thuế thân, Khổng Văn Cu v a bi v a hài. Có m t bài tuyệt hay,
đó là bài mô tả đám rư c Thánh Tăng. Đích thị là m t lễ h i phồn
th c có t đời nảo đời nao mà t i tận thời Pháp thu c vẫn còn tồn
tại, lại ở ngay sát nách kinh kỳ. Bấy nhiêu hình ảnh không bao giờ
xuất hiện n a nhưng tôi c nghĩ rằng ngày nay, ít ra thì nh ng nhà
làm phim lịch s , viết truyện lịch s , d ng kịch lịch s rất cần đến.
Chuyện cũ Hà Nội chính là m t tập ký s về lịch s . Thể này đòi
hỏi ở nhà văn ngoài tài văn chương còn phải có vốn liếng kiến th c
về cu c đời, có năng l c quan sát và k thuật phân tích, để trên cơ
sở đó trình bày đư c nh ng điều cần nói t nh ng s vật, s việc,
con người. Tô Hoài đã làm đư c như vậy. S hiểu biết của ông về
Hà N i thời thu c Pháp thật phong phú, thêm s quan sát tinh, phân
tích sắc, văn lại đậm đà và hóm, các mẩu chuyện dù là chân dung
m t nhân vật, ký họa về m t cảnh, hay giãi bày m t tâm s , đều hấp
dẫn, vì đó là nh ng điều m i lạ (dù là chuyện thời cũ) và rung đ ng
lòng người vì nh ng tình cảm chân thành nhân hậu.
Chuyện cũ Hà Nội còn có thể coi là m t tập điều tra xã h i học
về Hà N i thời n a đầu thế k XX bằng văn chương. Bất luận bạn
đọc ở gi i nào cũng có thể tìm đư c nh ng điều mình cần biết mà
https://thuviensach.vn
chưa biết. Chuyện cũ Hà Nội đư c giải thưởng Thăng Long có lẽ
còn vì lẽ đó.
NGUYỄN VINH PHÚC
10.1999
https://thuviensach.vn
Ăn cơm m i nói chuyện cũ
(Tục ng )
https://thuviensach.vn
1.
Phố Mới
Đứng đầu phố Hàng Mã, chỗ ngã tư Hàng Đường trông sang
phố Mới – phố Hàng Chiếu bây giờ, hai hàng cây nhội, vòm lá đen
sẫm, thân rêu mốc thếch, dây mộc leo quấn sởn lên. Mặt đường lúc
nào cũng thẫm mưa bụi nhớp nháp. Hoa nhội li ti rụng đỏ xỉn lẫn với
bùn vết chân người đi chen nhau. Phần nhiều là người váy nâu áo
đụp ở đầu ô Quan Chưởng vào.
Mấy năm tôi đã thôi ở Hàng Mã về Nghĩa Đô rồi, nhưng lúc
nào đi qua phố Mới, vẫn thấy tương t thế. Năm ấy, áp tết, tôi đi với
dì Năm ra nhà Vạn Bảo phố Mới.
Nhà Vạn Bảo ngay gi a phố. Đi ra bờ sông, nhà Vạn Bảo ở tay
phải. Lúc nào cũng có chú khách gầy móp xương hóc, cởi trần ngồi
cái ghế đẩu canh c a. Nhà cầm đồ Vạn Bảo, chủ là người Tàu.
Người cầm đồ cho vay lãi, làng tôi vô khối. Chỉ vài đồng bạc
cũng thành cái vốn còm để có thể cầm bán quanh quẩn. Chiếc thắt
lưng, bộ xà tích, chục cái bát mẫu, cái mâm, cả bát ăn cũng đem
cầm được. Lúc túng, coi như gi t nóng.
Nhà tôi thường túng bấn như nhiều nhà trong xóm. Nhưng
chẳng gì cũng có khung c i đương làm, lại n a các dì tôi đều chưa
chồng, cho nên phải gi mẽ đôi chút. Khi có cái cầm bán, chẳng
dám đánh tiếng hỏi han xung quanh. Mà phải đem đi cầm tận ngoài
Kẻ Chợ. Mà nào của nả báu ngọc cho cam. Cái áo the, cái quần
https://thuviensach.vn
lĩnh, cái mâm thau… Nhưng cốt là còn lành lặn, “các chú khách” nhà
Vạn Bảo mới cho cầm.
Dì Năm tôi đi chuộc cái áo cánh bông. Ngày thường dù rét
mướt đến đâu, có thể cứ xống áo cũ vá đụp lên, thế nào xong thôi.
Nhưng tết nhất đến nơi rồi, không thể như vậy được. Cái áo bông
của dì tôi, xa tanh đen lót lụa màu cánh chả, áo mồi đấy.
Mưa bụi. Có lẽ mưa bụi đã nhiều ngày. Nh ng cây nhội che
mái nhà, người qua lại trên mặt đường âm u, xám ngắt, nhẽo nhợt
ra. Mấy c a hàng bán củ nâu hai bên c a ô, từng đống nâu chất
cao xám xịt như đống đất. Các nhà bán thừng, bán chiếu, mưa hắt
thâm xì.
Thành tên phố Mới, phố Hàng Nâu, rõ ràng chẳng phải chỉ vì ở
đấy liên quan đến việc bán chiếu, bán củ nâu gần bến Nứa, của
rừng bên kia sông lúc nào cũng đem sang đổ lên đấy. Mấy ai nhớ
được phố Mới, ấy là thời lão Tây buôn Đồ Phổ Nghĩa[1] đem quân
Tàu Cờ Vàng tận Vân Nam về, lên chiếm đất lập “Phố Mới”. Tông
tích cái phố Mới là như thế. Về sau này, Tây lấy tên Đồ Phổ Nghĩa
đặt cho phố Mới, phố Đồ Phổ Nghĩa! Người ta vẫn gọi là phố Mới và
bây giờ ai cũng chỉ biết phố Mới là cái chợ mua bán người, là nơi có
hiệu cầm đồ của người Tàu mở to nhất Kẻ Chợ. Và quanh chân c a
ô Quan Chưởng là phố Hàng Nâu.
Trông vào phố Mới lúc nào cũng thấy ủ ê, hốt hoảng, nh ng
nét mặt người ngoài đường, người đứng tụ tập, ướt át, bẩn thỉu. Cả
đến trong cái ngách c a hậu vào chợ Đồng Xuân cũng lôi ra được
một nút người sầu thảm như thế.
Ngày trước, Vũ Trọng Phụng đã viết “Cơm thầy cơm cô”, thiên
phóng s thấm thía về cái chợ buôn bán người ở phố Mới này. Các
nơi, các tỉnh quanh đây đói việc, chẳng ai bảo ai đều kéo nhau về
https://thuviensach.vn
phố Mới. Đêm hôm rúc ráy ngủ nghê ở đâu, ban ngày bò ra đứng
bày hàng từng lũ trên đường, trên hè. Các mụ Tú Bà làm mối người
te tái đi lại, thoáng trông đã đoán biết. Nếu nhầm, chỉ nhầm với mấy
con mẹ ngồi đổi tiền đằng c a chợ có chiếc thúng nhòi để trước
mặt. Các mụ ấy thường mặc áo nâu vải rồng đóng khuy, mở khăn
vấn lộn ngược. Mụ thì gầy đét cá mắm, mụ thì béo tròn như cái cối
xay. Nước da chì xám xỉn, con mắt đảo điên, đứng đây mà nhớn
nhác nhìn ra tận đằng kia.
Ngón tay vuốt mép ăn trầu cắn chỉ, cứ liến thoắng:
– Tôi kiếm cho cậu cái món được mã nhé. Thổi cơm, giặt giũ,
sai bảo, gì cũng nhanh tay, nhanh miệng. Lại kháu n a! Không ỡm
ờ đâu. Nói thật.
– Cụ thì cứ kén người chân tay chắc chắn, không tốn cơm mà
nuôi nh ng của nỡm, lóng ngóng động đâu vỡ đấy. Cụ cho giá xem
nào?
– Ờ, s a tốt, nhiều lắm, cứ vọt tứa ra thế kia. Người đồng
chiêm mà. Nghèo thì phải bỏ con ở nhà nuôi lã lần ra tỉnh đi ở vú
kiếm miếng thôi. Chứ người khỏe như trâu lăn ấy. Mợ định cho bao
nhiêu?
Đủ loại kẻ ăn người ở trong nhà. Con sen, con nhài, con nụ, vú
em, u già, cậu nhỏ, anh xe, thằng quýt. Cứ nhong nhóng đứng đám
đấy. Các mụ Tú Bà nháo nhác, táo tác chạy đèn cù tán tỉnh chào
hàng, nói thách, ngã giá, đòi tiền lót tay. Khách mua người đã đưa
người đi rồi đến lúc ngắm lại thấy có điều không ưng, quay lại, tìm
mụ, vẫn con mụ ấy, thế mà mụ phủi áo cãi phứa không biết, không
biết. Thế là một trận xỉa xói nhau lại um lên.
Người các làng cả năm cả tháng chẳng ra Kẻ Chợ đều phải
khiếp cái phố Mới. Sợ dây vào quân nặc nô. Lo thân một ngày kia
https://thuviensach.vn
mình chẳng may sa vào đây. Lại còn bọn thầy tướng, bọn bói bài
tây, bọn chơi cua cá bạc bịp nhan nhản khắp phố, lan sang cả Hàng
Đào, Hàng Ngang.
Một mụ béo núc t dưng đi theo dì tôi. Mắt cú vọ nhìn người
soi mói như lạ lùng lắm. Rồi bỗng bước lên trước mặt. Một tay mụ
vuốt lên tay áo dì tôi:
– May quá, trông cô cũng được nước đấy. Có nhà trên phố Tây
đương cần chị hai. Chị hai, cô khâu đầm, cô vú đầm ấy mà. Làm với
Tây, tha hồ ăn trắng mặc trơn. Khổ người như cô, mảnh dẻ, nhỏ
nhắn, Tây người ta ưa. Chị hỏi khí không phải, cô ra Kẻ Chợ có việc
gì thế?
Dì tôi lúng túng:
– Tôi, tôi…
Mụ kia ngoác loe miệng, lại quệt mép trầu, nói:
– Ng như cô chắc chẳng phải ra đây làm con nhài, con nụ đi
ăn đi ở như người ta.
– Vâng ạ.
– Trông biết ngay mà. Ra Vạn Bảo cầm đồ, chuộc đồ hả?
– Vâng ạ.
– Đấy cô xem, con mắt chị có tinh đời không. Cô em tính k đi
nhé. Muốn đi khâu đầm. Hay làm chị hai. Một bước lên quan rồi!
Dì tôi vẫn lúng túng:
– Em chẳng biết thế nào.
Mụ ấy buông một câu:
– Cô em cứ ngẫm cho cẩn thận. Chị chỉ mới cần em đưa chị
một đồng bạc, đồng thơm đồng thảo lấy may thôi. Mọi s sau này
hẵng hay.
https://thuviensach.vn
Rồi mụ không nói gì n a, ngoảy sang với một đám đứng hè
cạnh đấy, lại nói nói cười cười với đám bên kia. Như thể người ta
còn nghĩ. Đúng như quân bài tây lật mặt thoăn thoắt, chẳng biết thế
nào. Dì cháu tôi càng chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao.
Nhà cầm đồ Vạn Bảo có cái hẻm lối đi con con chỉ vừa một
người len vào, thì đến một c a mắt cáo thấy cái lỗ tròn. Dì tôi cầm
tờ biên lai, kèm với tiền chuộc, tiền lãi đặt trước ô c a. Chỉ thấy một
bàn tay gầy gụa đen như ám khói thuốc phiện thò ra lặng lẽ vơ cả
vào. Khác nào các thứ đồ cúng dâng ông Trằn tinh trong chuyện
Thạch Sanh. Nháy mắt, đã trông thấy cái áo bông của dì tôi được
gấp nếp cẩn thận, vẫn bàn tay xương xẩu lúc nãy lại thò đưa ra.
Rồi dì cháu tôi đã ra về đến gi a phố. Vẫn ngổn ngang, túi bụi
nh ng người trên lòng đường, dưới trời bụi mưa trắng sáng.
Cái mụ mối lái người lúc nãy lại ở đâu bước tới. Hay mụ vẫn
đứng rình đợi chỗ nào, ai biết được.
Mụ nói t nhiên, như vẫn đương dở câu chuyện. Dì tôi bây giờ
đã bạo dạn hơn, dì tôi đáp:
– Phúc đức quá, gặp bà có lòng giúp cho em. Mời bà lên chơi
nhà. Thế nào em cũng xin chu tất.
Mụ cười bả lả:
– Đành thế rồi. Nhất định phải lên cho biết nhà biết c a cô em
chứ. Còn phải một b a túy lúy cơm rượu n a chứ, còn đi lại dài lâu
nên tình nên nghĩa chứ. Nhưng lạy thánh mớ bái, phải có một mảy
làm của tin, “của tin gọi một chút này làm ghi”, có của tin mới có lòng
thành, em ạ.
– Mời bà lên chơi nhà… Bà cứ nói… cứ hỏi… nhà em ở chỗ
chợ Bưởi đi vào…
https://thuviensach.vn
– Được rồi, trò chuyện bây giờ xong với em, chị còn phải chạy
đi nói lại với người ta. Tây người ta nói chắc như đinh đóng cột ấy.
Thế nào chị cũng lên nhà. Nhưng mà phải…
– … Em g i bà…
– Bao nhiêu?
– … bà… một hào…
– Phỉ phui! Thèm vào! Lót tay cái rơm cái rác thế à?
Dì tôi nhăn nhó, khẩn khoản:
– Nói th c với bà. Chuộc cái áo này, em hết tiền rồi. Hôm nào
bà lên nhà, em xin… nhà em ở chỗ chợ Bưởi vào. Bà cứ hỏi, cứ
hỏi…
Đồng hào bạc trắng, dì tôi cầm trong lòng bàn tay. Mụ ấy nhổ
bẹt một bãi nước bọt xuống đất, để làm hiệu phỉ phui đốt vía rồi
chép miệng, cất cái giọng chán khê nằng nặc: “Từ sáng đến giờ!
Thôi cũng mở hàng lấy may…”. Mụ rón đầu ngón, nhặt đồng hào.
Như thể ghê tay không đáng cầm. Trên tàu điện, dì Năm ngồi cạnh
tôi, cũng như ban sáng. Nhưng mà sao thấy lạ. Tôi chưa thể hiểu
được công việc của người lớn. Cảm như có cái gì khác buổi sáng,
khi hai dì cháu ở nhà ra đi. Tôi cũng biết thế là dì Năm tôi sắp được
xuống Kẻ Chợ làm chân chị hai, chân khâu đầm cho nhà Tây. Tôi đã
trông thấy ở phố thanh vắng, cái nhà Tây có hai cánh c a sắt mở, ô
tô chạy ra chạy vào. Dì Năm sẽ được đi vào cái c a ấy à? Dì Năm
đi làm việc trong ấy à? Lấy ông bếp, ông bồi, ông tài xế hay lấy ông
Tây cũng nên. Lấy chồng Tây thì sung sướng, nhưng phải cái bị
người ta gọi là con me tây. Vùng tôi cũng chưa có ai như thế. Tôi
không biết tưởng tượng ra hơn bao nhiêu điều “ấy à” lộn xộn nhưng
ngạc nhiên.
https://thuviensach.vn
Đến hôm hẹn, cả nhà tôi cứ lẳng lặng kín đáo mà lại tấp nập
khác thường. Dì Năm quét sân, nhát chổi moi móc k lưỡng cả trong
góc vách. Thế mà lát sau, ông tôi lại ra quét lại. Tiếng chổi quẹt quẹt
lạ lạ, xôn xao thế nào. Nhà có khách, nhà sắp có khách ngoài phố
về.
Khách là cái bà mặt béo xám đã cầm của dì Năm một hào bạc.
Làm sao mà tôi ghét cái con mụ! Nhưng rồi tôi lại mong người ta
đến, đem dì Năm đi làm khâu đầm, làm chị hai ở nhà Tây. Rồi tôi lại
thấy cứ ghê ghê rợn rợn, như nhà sắp có ma, n a đêm gà gáy ma
hiện ra.
Mãi tận chập tối, dường như cả nhà ai cũng đều nghe, chẳng
thấy người bước vào ngõ. Đến quãng xâm xẩm thế này thì hết tàu
điện rồi. Vậy là dì Năm tôi bị lừa mất một hào.
Năm nay dì Năm đã kém một tuổi đầy tám mươi. Dì tôi và các
em tôi ở Sơn Tây. Chuyện này, chắc dì đã quên lâu.
[1]
Phiên âm của Jean Dupuis tên một nhà buôn người Pháp
https://thuviensach.vn
2.
Bắt rượu
Năm ấy, tôi về ăn tết quê nội ở Cát Động trong Hà Đông. Chưa
đến hăm ba Tết ông Công. Đã qua lễ sắp ấn. Cánh đồng Thanh Oai
phẳng lặng, xám ngắt phất phơ, khói từng cuộn suốt sang tận làng
Mai. Chẳng biết khói đốt gốc rạ sưởi ấm hay khói hun chuột.
Tôi theo u tôi về nhà bác Cả tôi ngoài xóm Đồng. Nhà nhà
quanh co, kề bên ruộng vào xóm. Không phải qua c a đình đằng bờ
đê sông Đáy, mà người ra vào xóm đi tắt ngoài cổng đồng lên. Có lẽ
ngày xưa, đây cũng là ruộng, rồi có người ra làm trại ở, mới thành
xóm, mà tên là xóm Đồng.
Đứng đây, trông thẳng lên đường cái tây. Vẫn còn nghe vòng
bánh xe sắt lăn rào rạt trên mặt đường đá và tiếng lá cọ xột xoạt
theo nhịp chân chạy của người kéo xe tay bánh sắt đội nón mê,
khoác chiếc áo tơi lá như con cò lẻo khoẻo bị hai cái càng tay tre
đóng gông ngang ng c.
Bên kia, nước đồng chiêm trắng bong xuống tận Chuôn Tre,
đồng Vàng giáp vùng trũng Ứng Hòa, Phú Xuyên… Tiếng còi tàu
hỏa tận cuối xa nghe như thuốn dài dưới làn nước lạnh tê.
Tới bờ ao đã nghe táo tác, nheo nhéo trong cổng ngăn tiếng
trẻ con học bài. Nh ng cậu học trò vừa học quốc ng , vừa học ch
ta, có cái đầu cạo trọc, đầu mới để sắp ăn tết, đuôi tóc hoa roi dài
thòng lõng xuống gi a lưng.
https://thuviensach.vn
Bác Cả tôi ngồi gi a đám trẻ con lau nhau nhấp nhô. Có đứa
đương mài son, mài m c trong cái nghiên. Có đứa nằm chổng
mông, viết phóng. Có đứa ê a… a… oa… i… oai… u… i… c… lét…
uếch… uých… Cái roi mây của bác Cả dứ lên dứ xuống, lặng lẽ ghê
rợn. Hai con mắt muốn bật con ngươi của mỗi cậu học trò liếc trộm
cái roi.
Gi a lúc ấy, ngoài đầu đồng có tiếng nhốn nháo. Người trong
xóm nghển mắt lên trên rào bờ duối trông ra. Rồi giật thót mình, ngơ
ngác. Từ ngoài đường cái gi a đồng, đương lúp cúp chạy vào một
đám người. Mũ trắng, quần áo vàng lốp. Lính đoan[1] trên tỉnh về.
Gần đến đầu bờ ao, trông rõ ra người Tây đoan đi đầu, cao lênh
khênh. Người Tây mặc áo vàng, quần vàng, tay cầm ngang cái
thuốn sắt dài.
Đám người trong xóm luống cuống, s ng sờ, không biết làm
thế nào. Cho đến lúc chẳng biết ai trong bờ rào nào hét to tướng
lên:
– Tây đoan về khám rượu!
Bây giờ dường như mới nhớ ra, sợ quá. Tất cả ù té chạy.
Trong lúc, Tây và lính đoan đã ập đến nơi.
Đám học trò quanh bác Cả đương thi nhau học gào từng ch ,
bỗng im bặt. Nhưng các cậu ấy hãi cái roi của bác tôi, vẫn không
dám ngóc đầu trông ra.
Bác Cả đứng phắt dậy. Bác bước lại trước án thư. Bác
nghiêng chiếc mâm bồng, lấy ra trong chân mâm một cái chai dài
ngoẵng. Trong chai, đ ng độ hơn cút rượu ngấn lên già lưng chai.
Bác bỏ chai rượu lậu vào túi trong cái vạt áo năm thân ngay trước
bụng. Rồi bác lại ngồi xuống chỗ cũ, chùm lên vai tấm chăn khố tải
https://thuviensach.vn
xùm xòe. Cầm chiếc roi mây – lại như lúc nãy, gõ đẹt đẹt xuống mặt
chiếc phản mọt, nói dõng dạc:
– Đứa nào cứ yên chỗ ấy. Học đi!
Bọn lính đoan đã vào gi a sân. Người Tây đoan, tây lai, nói sõi
như ta:
– Ông đồ ngồi bảo học à?
– Vâng ạ.
– Phải chắp tay nói: “Bẩm quan lớn nhà đoan, vâng ạ” mới lễ
phép chứ!
– Bẩm quan lớn nhà đoan…
– Nhà ông đồ có nấu rượu lậu không?
– Bẩm quan lớn nhà đoan, không ạ.
– Quan khám thấy có rượu thì ông đồ đi tù mười tám tháng
nhé. Sắp tết rồi mà phải ra tỉnh ngồi nhà pha, khổ vợ con lắm đấy.
Bác tôi chẳng biết nói thế nào, chỉ thỉnh thoảng buông một câu
“vâng ạ” đánh nhịp ngẩn ngơ.
Người Tây đoan cầm chiếc thuốn sắt chọc lên bàn thờ. Cái
thuốn nhọn hoắt như ng i được hơi rượu, tinh thế. Nó đẩy nghiêng
đế cái mâm đồng. Nhưng đế rỗng, chẳng có gì cả.
Tôi biết thế rồi, tôi vẫn run cầm cập. Có lẽ mặt tôi tái mét. Bởi
vì chai rượu lậu vừa ở đế mâm bồng bỗng chui vào trong áo bác tôi,
ngay cạnh đây thôi. Nó ng i thấy hơi rượu thì nguy tai.
Tây đoan quay lại, hỏi u tôi:
– Cái nhà chị này đến cất rượu lậu về bán tết à?
Bác tôi nói:
https://thuviensach.vn
– Không, thím nó là người nhà ở ngoài tỉnh về chơi.
Tây đoan quát:
– Người nhà cũng khám!
Rồi Tây đoan nhấc cái tay nải nâu của u tôi lên. Đầu thuốn sắt
gõ vào. Chỉ nghe tiếng lịch bịch xống áo vải. Tây đoan buông cái tay
nải xuống. Rồi trỏ ngọn thuốn sắt vào bác Cả:
– Thầy đồ giả vờ, thầy đồ giấu rượu trong chăn. Chúng mày
khôn lắm. Ông đã bắt được chúng mày cất rượu trong chăn nhiều
lần rồi. Muốn sống thì bỏ cái chăn ra.
Nom bác tôi lúc ấy cứ như con gà mái ấp xòe cánh. Chưa kịp
nhấc cái chăn trên vai, đầu thuốn của thằng Tây đã quều xuống. Bây
giờ thì cái thuốn sắp chọc đến chỗ, chỗ chai rượu ở bọng áo bác tôi.
Tôi cuống queo, nắm quanh váy u tôi. Cái chăn rơi xuống rồi, mà
bác tôi vẫn ngồi trơ ra đấy. Tôi càng sợ.
Tây đoan ngắm nghía, rồi lại quát:
– Thầy đồ đứng dậy!
Bác Cả tôi từ từ đứng dậy. Hai con mắt toét nhoèn viền vải tây
của bác tôi vẫn gấp gay nhìn thẳng, chẳng khác lúc nãy. Người Tây
đoan im một lát rồi lạnh lùng nói:
– Chỉ làm mất thì giờ các quan!
Rồi Tây đoan xách cái thuốn bước ra. Nhưng còn như nghi
ngờ, như tinh nghịch, như quen tay, lại chọc thuốn lên mái một cái
n a. Tàu lá cọ thủng, trông thấy cái lỗ tròn tròn trên trời.
Tây, lính và các người xem ra cả rồi, bác Cả lại ngồi xuống.
Nhưng đám học trò quanh bàn đã biến mất từ lúc nào.
https://thuviensach.vn
Bọn lính đoan đi sục thuốn khắp các vườn và bờ rào quanh
xóm. Xem có chỗ nào chôn giấu rượu, bã rượu. Không thấy gì, cả
bọn đùng đùng kéo vào xóm trong.
Đến tận trưa, đám lính nhà đoan khám rượu mới trở ra đường
cái tây, lôi theo nhiều thứ bắt được ở xóm dưới bãi. Cái nồi đồng ba
mươi với lưng nồi bã, một thúng gạo nếp đã vo sẵn. Mấy cái bong
bóng trâu, có cái bẹp rúm, có chiếc đã phồng rượu. Đủ đồ nghề, cái
cần trúc xe điếu chuyên nước cất, cái mai rùa gỗ, cái chõ… Nhà ai
lắm đồ nghề nấu rượu thế mà không tẩu tán kịp! Chúng nó bắt được
tuốt. Đứa nào báo Tây đoan mà để hại người ta thế. Tết nhất đến
nơi. Bắt được rượu đích xác, chỉ bởi có đứa báo thôi. Định làm mẻ
rượu bán tết mà hóa ra sạt nghiệp. Lại còn tù tội n a.
Bọn lính đoan đi trước. Đằng sau, lũ lượt người cung cúc theo.
Không biết người nhà hay tuần phiên khiêng các thứ nhà đoan vừa
bắt được.
Có cả chú bếp Mỡ hớt hải từ trong xóm ra chạy lẫn vào đám
bắt rượu.
Nhiều người gọi:
– Chú bếp!
Chú bếp Mỡ quay lại, trông thấy tôi, nói to:
– A thằng cu Bưởi về quê ăn tết à? Chú đi tù rượu đây. Mẹ con
cháu ở nhà chơi nhé.
Đi tù rượu! Câu nói cứ ngọt như không. Tôi vẫn nghe kể ngày
trước chú bếp Mỡ đã đi lính sang Tây. Khi về, chẳng có lon đội, lon
ách gì, chỉ được người ta gọi chức bếp, bếp Mỡ. Sang tận bên Tây
về rồi chú lại vẫn đi cày thuê, đào ao, rào vườn cho người ta. Vẫn
https://thuviensach.vn
như ngày trước. Nh ng buổi chăn trâu, chú toàn kể các chuyện bên
Tây. Về quê bao giờ tôi cũng đến nhà chơi nghe chuyện đường xa
của chú bếp Mỡ.
Chú ấy nói thế nào? Chú tù rượu. Chú đi tù rượu? Chú vừa rảo
chân vừa xỏ tay khoác cái khố tải, cười hí hí và nói thế.
Thím bếp Mỡ với lũ con đứng đầu xóm nhìn theo. Đến lúc cả
bọn với các người nhà đoan khuất vào gốc nh ng cây muỗm, thím
bếp Mỡ trở vào, đi gi a đám người đương cười hê hê. Qua các ngõ,
nghe người ta nói cợt: “Thế là t dưng giời cho nhà bếp Mỡ cái tết
nhé, sướng nhé”. Chẳng biết thím bếp Mỡ đùa hay thật, thím cứ
chép miệng lẩm nhẩm: “Sướng, sướng quá!”.
Thì ra Tây đoan khám rượu, bắt được cái lò nhà ông lý hào [2]
ngoài bãi ngô dưới bờ sông. Rõ ràng có đứa xấu bụng đi báo ăn
thưởng. Nồi rượu còn đương đun. Không tẩu tán được mảy may.
Ông lý hào phải vội nhờ người đi bảo chú bếp Mỡ theo tang
vật lên tỉnh. Nói một câu thế, chú đã biết lệ. Có gì thì chú bếp cứ
đứng ra nhận nhà chú nấu rượu rồi chú vào ngồi nhà pha. Qua tết,
sang giêng còn phải tù hay được về, đợi ra tòa xong rồi cái ấy sẽ
liệu với nhau sau. Ở nhà, vợ con chú bếp được ông lý hào hẵng đưa
món tiền chục bạc ăn tết đã.
Bên làng Mai còn nhiều nhà nấu rượu lậu, có nh ng người đã
quen đi ở tù thay người bị bắt rượu như thế. Tù mấy ngày mấy
tháng, đã có giá hẳn hoi. Có người ngồi tù thuê đến mười tám, hai
mươi tháng. Chủ rượu ở nhà phải nuôi vợ con, lại đóng thuế thân
cho người tù thay đến hai năm. Thôi thì đằng nào cũng vậy, người
khôn của khó, ở nhà cũng phải m a mật mới kiếm nổi miếng.
https://thuviensach.vn
Cánh đồng vẫn im phắc. Không biết tại rét quá, người ta rúm
lại hay vì giá buốt đến cóng cá mà tưởng ra như thế. Đám khói gốc
rạ vẫn nghi ngút đằng xa, càng vắng ngắt vắng ngơ.
Bỗng một cậu học trò bấy giờ mới thò đầu chui trong gầm phản
ra. Bác tôi điềm nhiên bảo anh trưởng tràng:
– Sang giêng, ngoài rằm khai trường nhé. Bảo chúng nó thế.
Rồi bác Cả rút chai rượu lậu trong bụng áo ra, lại cất vào dưới
lỗ hổng ở chân mâm bồng, như lúc nãy.
[1] Đoan (tiếng Pháp: douane), cơ quan thu thế, bắt thuế thời Pháp
[2] Lý hào: người bỏ tiền ra mua chức lý trưởng
https://thuviensach.vn
3.
Cái xe đạp
Vào nh ng năm ấy, xe đạp còn hiếm, không lắm như bây giờ.
Không phải nhà nào cũng có xe đạp và ai cũng có xe đâu. Với nhiều
người, xe đạp là một thèm muốn cao cao. Mác xe của các hãng
khác nhau ở Sanh Ê-chiên bên Pháp ai cũng nhớ vanh vách và
phân biệt mọi đặc điểm ngóc ngách cái phanh, cái lốp, mặc dầu
không mấy người có xe đạp.
Chưa bao giờ tôi có xe đạp. Đến năm 1945, tôi rời ra phố, mới
tậu xe đạp – hồi ấy chưa gọi là mua xe đạp, mà người ta nói trịnh
trọng: “Tậu xe đạp” như tậu ruộng. Cái xe đạp đầu tiên của tôi trơ
trụi có khung và bánh gọi là xe cởi truồng.
Xe đạp, cái xe đạp ước ao. Muốn có, nên lúc nào cũng thèm
như có thật. Cả làng tôi cũng chỉ một ông đội Lộng có xe đạp. Trên
đầu chợ, bên vườn Bàng, ông Tây đen ma tà Ca ra ta Sanh đi gác
thuê cũng có một cái – chẳng biết của sở cho mượn đi, hay của ông.
Mỗi khi nghe chuông kính coong, kính coong tận ngoài đầu đường,
người trong xóm đã chạy à ra xem xe đạp qua. Quái thật, bây giờ
không thấy ai tập xe đạp, rồi đến cả trẻ con, cũng t nhiên biết đạp
xe nhoay nhoáy. Ngày trước, phải tập xe ngã lên ngã xuống, mướt
mao mồ hôi mồ kê. Ở dốc đường Thành, hàng bác cả Đức cho thuê
xe đạp, có nh ng cái xe tã dành riêng cho thuê tập. Gom tiền lại,
thuê giờ. Thằng gi xe, thằng trèo lên yên. Cũng phải bao phen
choét đầu gối. Có lẽ vì bây giờ nhiều xe đạp, lúc nào cũng thấy
https://thuviensach.vn
người đạp, chỉ trông người ta đạp xe mà rồi trẻ con t nhiên cũng
biết đi.
Nhưng có một cái xe đạp thời ấy cũng khá nhiêu khê. Không
phải chỉ bởi mua xe nhiều tiền. Không phải vì công phu hầu hạ, s a
sang nó. Mỗi ngày, đi đâu về, lại lau xe, ngày nào cũng lau từ hang
hốc cái khung, cái bàn đạp, cái nan hoa. Người ta không chểnh
mảng với xe như bây giờ. Chỉ nh ng tốn kém rắc rối xung quanh cái
xe đạp cũng đã lôi thôi rồi. Bây giờ tôi vẫn lau xe đạp theo thói quen
k lưỡng như thế.
Tôi đương đạp xe qua cầu Đơ thị xã Hà Đông. Có hai người
đội xếp bỗng đạp theo. Nói cho đúng, tôi đã trông thấy hai người đội
xếp đứng ở đầu cầu. Nhưng không ngờ họ lại đương chú ý đến tôi.
Vâng, đi đâu mà chẳng phải nhìn đội xếp, dù là nh ng người
ngay ngắn, lương thiện. Bởi vì hầu như các ông đội xếp cứ trông
thấy mặt ai là rình bắt, rình khám, rình phạt. Từng quãng trong thành
phố, lại thấy một đội xếp Tây đội mũ lưỡi trai, đeo súng lục, đạp xe
Pơgiô bánh to (lốp 650). Hai đội xếp ta đội mũ cát đít vịt lợp vải vàng
đi theo hai bên. Hai người này cũng vắt vai cái dây da, bao súng lép
kẹp, mà ai cũng biết trong nhét giẻ lau xe. Nhưng con mắt chăm
chẳm, rình rình. Thềm nhà có rác, phạt. Phơi quần áo, tã lót, chiếu
trước c a, phạt. Cống bẩn, phạt. Đánh nhau, phạt cả đôi bên. Ven
đường khắp Hà Nội không đâu có nhà đái công cộng. Mà đái đường
thì phải phạt hẳn sáu hào. Bởi vậy, trẻ con trong làng đi phố mót đái
cứ vừa đi vừa đái ra quần. Các bác cu li kéo xe thì vừa chạy vừa đái
vào bẹn. Chả là hình như không có lệ phạt người vừa đi vừa đái.
Nhưng cũng chẳng có cơn cớ gì cũng rút giấy biên phạt, thu tiền.
Người ta nói các bóp đã định trước số tiền phạt thu hàng tháng rồi,
đội xếp cứ trông đấy mà liệu đi phạt cho đủ.
https://thuviensach.vn
Đến gi a cầu, một người đội xếp đạp xe vượt lên trên tôi.
– Này này… Phanh lại.
Tôi lúng túng tìm cái tay phanh. Tôi bóp phanh bánh trước két
két…
– Bánh sau!
Phúc đức phanh bánh sau ăn ngay. Chiếc xe tôi đứng kh ng
lại.
Hai người đội xếp châu đầu vào tôi.
– Xe không phanh à?
– Phanh ăn thế mới đứng lại được ạ.
– Chỉ có phanh bánh sau!
Tôi nhăn nhó, rụt rè nói khó. Rồi đưa một hào bạc.
Người đội xếp hầm hầm:
– Không rỡn với nhà anh đâu. Xe lại mất cả gác đờ bu. Gặp
người ác thì biên lai phạt rồi đấy, biết chưa. Đồ nhà quê, thôi cút.
Hú vía, xe tôi đi mượn! Tôi lặng lẽ nghĩ có lẽ hai cái lão đội xếp
ấy cũng còn có phần nhân đức. Xe không chắn bùn, phanh bánh
trước không ăn, mà chỉ phải đút có một hào cho hai người chia
nhau.
Thời ấy, nuôi được cái xe đạp, nhọc lắm. Xe phải gắn một
mảnh sắt, mảnh kền khắc tên, số nhà, tên phố của chủ xe. Không
có, phạt. Đèo nhau, phạt. Trông cái xe mướp quá, ngứa mắt, cũng
phạt. Ba đồng một tạ gạo Sài Gòn lẫn gạo gãy hàng vừa, giá trị một
đồng bạc không phải nhỏ. Thế mà thuế xe đạp mỗi năm đóng mất
một đồng bạc, được lĩnh về một miếng lập lắc bằng đồng vặn vít đeo
vào xe. Đầu năm, chỉ hết tháng giêng, đội xếp đã đứng đường tóm
phạt các xe chưa có lập lắc mới.
https://thuviensach.vn
Chập tối, xe phải có đèn. Không thì một tay cầm nắm hương
vung lên. Cái đèn ló phao dầu tây cắm vào cọc đèn trước ghi đông,
khói mù mịt, khét lẹt.
Có việc ra phố chập tối, phải sắp sẵn từ chiều cái phao đầy
dầu. Thế nào mà khi về, qua đường Quan Thánh, gió hồ thổi lên,
đèn tắt ngóm mất.
Người đội xếp lù lù hiện ra như ma hồ Trúc Bạch lên.
– Ê! Xe không đèn, đứng lại!
– Đèn tôi mới vừa tắt.
– Không biết, a lê, về bóp!
[1]
Tôi dắt xe đi với người đội xếp về sở cẩm
Hàng Đậu. Xe
không đèn – hay xe đèn tắt cũng thế, tôi đã biết phải nộp phạt ba
hào. Không có tiền thì để cái thẻ thuế thân và xe đạp lại, mai đem
tiền đến. Nếu không, phải cất công vào ngồi nhà giam sở cẩm, chịu
đói khát hai mươi bốn tiếng, đúng giờ này ngày mai thì được đem xe
về. Còn tiện nhất thì khấn anh đội xếp một hai hào, chắc được thả
cho đi ngay.
Nhưng tôi theo cách “vào ngồi nhà giam”. Chẳng phải vì
bướng, mà bởi một lẽ dễ hiểu. Xe đạp đi mượn, tôi lại không có tiền,
mà lúc nào tôi cũng thong thả thừa thì giờ. Thế mà chưa dứt nỗi lo.
Ngồi nhà giam, nhưng phải làm sao cho trông thấy cái xe đạp cả
đêm, sợ nó nẫng mất. May cũng có nhiều người đi xe không đèn,
phải bắt giam, chịu khó ngồi nhà muỗi, để khỏi nộp phạt. Xe chất
trước c a buồng chồng đống cao hơn đầu người. Nhưng lại nghĩ lo
xa nỗi tối mai được thả vào giờ này, xe vẫn không đèn. Dẫu không
dám đi, chỉ dắt về tận nhà, ngộ chẳng may gặp đội xếp, nó lại bảo
mình đương đi vừa nhảy xuống, cứ phạt, thì rồi không biết ra sao
đây. Lôi thôi quá!
https://thuviensach.vn
Cái buồng giam ở bóp Hàng Đậu khai tịt cả mũi. Suốt đêm,
người lúc nhúc ngồi bó gối, chen nhau. Muỗi đói đốt, gáy sần lên
như gai gạo.
Vậy mà nghe kể hôm nọ cũng có người thắt cổ. Ở cái chỗ đêm
ngày đông ních như thế này, không hiểu thắt cổ vào lúc nào mà chết
được.
[1]
Cẩm do tiếng Pháp: commissariat.
https://thuviensach.vn
4.
Nh ng nhà hàng xóm
Bây giờ bốn bên hàng xóm, năm này qua năm khác, dường
như bao giờ cũng vẫn thế. Người lớn già đi và cứ mỗi năm càng lắm
trẻ con. Khi nào cũng nghe tiếng trẻ cười nói inh ỏi.
Ừ, mà khác thật, cái làng đã được đổi thành thị trấn – thành
phường. Cái xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4 gọn ghẽ. Không còn chỉ
quanh quẩn bên này bên kia cũng chia ra làng Tân, làng Nghè. Làng
Nghè lại còn nh ng xóm Trong, xóm Gi a, xóm Trẽ, xóm Ngoài, rắc
rối đến lắm tên.
Mấy nhà quanh quanh tôi chẳng có gì khác. Bác đôi Lạc bằng
tuổi tôi vẫn đi công tác. Bên kia bờ chuôm, ông bà Tám đã nghỉ hưu.
Thỉnh thoảng lên chơi cậu con trai làm bác sĩ trên Thái Nguyên. Mấy
nhà bà con Việt kiều ở Thái La...
https://thuviensach.vn
Lời giới thiệu
Năm v a qua, Chuyện cũ Hà Nội đã đư c Ủy ban nhân dân
Thành phố Hà N i tặng giải thưởng Thăng Long 1997-1998. Thật
x ng đáng, vì trong khoảng chục năm trở lại đây, Chuyện cũ Hà Nội
là m t tập ký s thật đặc sắc về đề tài Hà N i.
Có thể coi đó là m t th Vũ Trung tùy bút thời hiện đại, vì v i
nh ng mẩu chuyện không dài, Tô Hoài v i tư cách m t ch ng nhân
đã ghi lại “muôn mặt đời thường” của cái Hà N i thời thu c Tây. Tuy
m i qua sáu, bảy chục năm mà dường như không mấy ai nh n a,
thậm chí đã trở thành chuyện đời xưa.
Chuyện cũ Hà Nội ở lần xuất bản đầu tiên vào năm 1986 m i
chỉ có bốn chục truyện. T i lần tái bản này sách gồm 114 chuyện.
Không gian đư c mở r ng, thời gian đư c dãn dài, chuyện đời,
chuyện người phong phú lên nhiều. Điều đáng nói trư c hết là ở lần
in đầu, có lẽ nặng lòng v i vùng quê ven đô sâu nặng ân tình nên
các câu chuyện cũng nghiêng về nh ng miền đất ngoại ô. Nay thì cả
m t n i thị Hà N i dàn trải trong tập sách: Băm sáu phố phường, Cái
tàu điện, Phố Mới, Phố Hàng Đào, Phố Hàng Ngang, Phố Nghề, Hội
Tây, Bà Ba (Bé) Tý, Tiếng rao đêm, Cơm đầu ghế, Chiếc áo dài,
Ông Hai Tây, Cây Hồ Gươm v.v. Chỉ nêu vài tên bài như thế cũng
thấy s hiện diện đa dạng của cái n i thành đa đoan lắm chuyện.
Phố Hàng Đào v i nh ng “m Hai” khinh khỉnh, vàng ngọc đầy cổ
đầy tay, phố Hàng Ngang v i nh ng chú tây đen thờ l n, chủ hiệu
vải, sinh hoạt bí hiểm song cũng đa tình, Phố M i có nhà cầm đồ
Vạn Bảo “l t da” dân nghèo, có cả ch đưa người, m t th ch môi
https://thuviensach.vn
gi i thuê mư n – cả mua bán – nh ng vú em, thằng nhỏ, con sen…
nh ng thân phận nghèo hèn đem thân làm nô b c cho thiên hạ.
Rồi cái tầu điện leng keng, nh ng ngày H i Tây bên bờ Hồ
Gươm, nh ng tà áo dài t thuở thay vai và nhu m nâu Đồng Lầm
đến áo Lơ Muya sặc s mốt thời trang m t thời…
Cái hay ở Tô Hoài là nh ng cái lăng nhăng sự đời ấy (ch
của Tản Đà) đã có ít nhiều người ghi lại. Chuyện ông Hai Tây làm
xiếc, Bà Bé Tý lên đồng… sách báo đã t ng đề cập. Nhưng lần này
Tô Hoài lại nhìn ra nh ng nét hoạt kê m i; hay cũng đã nhiều người
viết về quà Hà N i nhưng các bài Chả cá, Bánh cuốn, Phở của Tô
Hoài có nh ng thông tin hay, m i mẻ, ngay như Nguyễn Tuân cũng
chưa phát hiện hết. Cũng như các loại tiếng rao hàng ban đêm thì
Thạch Lam đã ghi chép vậy mà ở Tiếng rao đêm của Tô Hoài vẫn có
nhiều ý t m i.
Như vậy đó, v i vài nét ký họa, Tô Hoài đã vẽ đư c cái thần
thái của m t thành phố nghìn tuổi đang đô thị hóa gấp gáp trở thành
n a Tây n a ta, n a cũ n a m i, n a sang n a quê…
Có m t Hà N i nhố nhăng như thế thì cũng có m t Hà N i lầm
than.
Cảnh lầm than ấy càng rõ nét hơn ở các làng quê ven n i. Th
c i, th giấy làm quần quật ngày đêm mà vẫn đói khổ, rồi nạn Tây
đoan sục bắt rư u lậu và nh ng người dân lành đói khổ phải nhận đi
“tù rư u thay” để v con ở nhà có người chu cấp. S bần cùng ấy
hằn sâu nhất trong chuyện Chết đói. Nạn đói năm 1945 đã làm v i đi
của làng Nghĩa Đô bao người. Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao
nếu không có m t người quen ý t trả công dạy học lũ con ông ta
bằng gạo thì “không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh
hay dì Tư không, hay còn thế nào n a”.
https://thuviensach.vn
Nh ng câu chuyện “tang thương ngẫu lục” ấy đủ giúp bạn đọc
trẻ nhận thấy thời nay hơn hẳn thời cũ, cu c sống khá giả hơn trư c
nhiều lắm. Cho nên nói chuyện cũ mà tư tưởng sách không hề cũ.
Trong sách còn m t mảng kể về phong tục. Nhiều cái nay
không còn. Như các đám múa sư t thì đêm Rằm Trung Thu ở
nh ng phố Hàng Ngang, Hàng Đường và đánh nhau chí t , quang
cảnh nh ng ngày áp tết dường như cả nư c kéo về Hà N i… Ở ven
đô thì h i hè đình đám, khao vọng, đám ma… Các bài Làm ma khô,
Thẻ thuế thân, Khổng Văn Cu v a bi v a hài. Có m t bài tuyệt hay,
đó là bài mô tả đám rư c Thánh Tăng. Đích thị là m t lễ h i phồn
th c có t đời nảo đời nao mà t i tận thời Pháp thu c vẫn còn tồn
tại, lại ở ngay sát nách kinh kỳ. Bấy nhiêu hình ảnh không bao giờ
xuất hiện n a nhưng tôi c nghĩ rằng ngày nay, ít ra thì nh ng nhà
làm phim lịch s , viết truyện lịch s , d ng kịch lịch s rất cần đến.
Chuyện cũ Hà Nội chính là m t tập ký s về lịch s . Thể này đòi
hỏi ở nhà văn ngoài tài văn chương còn phải có vốn liếng kiến th c
về cu c đời, có năng l c quan sát và k thuật phân tích, để trên cơ
sở đó trình bày đư c nh ng điều cần nói t nh ng s vật, s việc,
con người. Tô Hoài đã làm đư c như vậy. S hiểu biết của ông về
Hà N i thời thu c Pháp thật phong phú, thêm s quan sát tinh, phân
tích sắc, văn lại đậm đà và hóm, các mẩu chuyện dù là chân dung
m t nhân vật, ký họa về m t cảnh, hay giãi bày m t tâm s , đều hấp
dẫn, vì đó là nh ng điều m i lạ (dù là chuyện thời cũ) và rung đ ng
lòng người vì nh ng tình cảm chân thành nhân hậu.
Chuyện cũ Hà Nội còn có thể coi là m t tập điều tra xã h i học
về Hà N i thời n a đầu thế k XX bằng văn chương. Bất luận bạn
đọc ở gi i nào cũng có thể tìm đư c nh ng điều mình cần biết mà
https://thuviensach.vn
chưa biết. Chuyện cũ Hà Nội đư c giải thưởng Thăng Long có lẽ
còn vì lẽ đó.
NGUYỄN VINH PHÚC
10.1999
https://thuviensach.vn
Ăn cơm m i nói chuyện cũ
(Tục ng )
https://thuviensach.vn
1.
Phố Mới
Đứng đầu phố Hàng Mã, chỗ ngã tư Hàng Đường trông sang
phố Mới – phố Hàng Chiếu bây giờ, hai hàng cây nhội, vòm lá đen
sẫm, thân rêu mốc thếch, dây mộc leo quấn sởn lên. Mặt đường lúc
nào cũng thẫm mưa bụi nhớp nháp. Hoa nhội li ti rụng đỏ xỉn lẫn với
bùn vết chân người đi chen nhau. Phần nhiều là người váy nâu áo
đụp ở đầu ô Quan Chưởng vào.
Mấy năm tôi đã thôi ở Hàng Mã về Nghĩa Đô rồi, nhưng lúc
nào đi qua phố Mới, vẫn thấy tương t thế. Năm ấy, áp tết, tôi đi với
dì Năm ra nhà Vạn Bảo phố Mới.
Nhà Vạn Bảo ngay gi a phố. Đi ra bờ sông, nhà Vạn Bảo ở tay
phải. Lúc nào cũng có chú khách gầy móp xương hóc, cởi trần ngồi
cái ghế đẩu canh c a. Nhà cầm đồ Vạn Bảo, chủ là người Tàu.
Người cầm đồ cho vay lãi, làng tôi vô khối. Chỉ vài đồng bạc
cũng thành cái vốn còm để có thể cầm bán quanh quẩn. Chiếc thắt
lưng, bộ xà tích, chục cái bát mẫu, cái mâm, cả bát ăn cũng đem
cầm được. Lúc túng, coi như gi t nóng.
Nhà tôi thường túng bấn như nhiều nhà trong xóm. Nhưng
chẳng gì cũng có khung c i đương làm, lại n a các dì tôi đều chưa
chồng, cho nên phải gi mẽ đôi chút. Khi có cái cầm bán, chẳng
dám đánh tiếng hỏi han xung quanh. Mà phải đem đi cầm tận ngoài
Kẻ Chợ. Mà nào của nả báu ngọc cho cam. Cái áo the, cái quần
https://thuviensach.vn
lĩnh, cái mâm thau… Nhưng cốt là còn lành lặn, “các chú khách” nhà
Vạn Bảo mới cho cầm.
Dì Năm tôi đi chuộc cái áo cánh bông. Ngày thường dù rét
mướt đến đâu, có thể cứ xống áo cũ vá đụp lên, thế nào xong thôi.
Nhưng tết nhất đến nơi rồi, không thể như vậy được. Cái áo bông
của dì tôi, xa tanh đen lót lụa màu cánh chả, áo mồi đấy.
Mưa bụi. Có lẽ mưa bụi đã nhiều ngày. Nh ng cây nhội che
mái nhà, người qua lại trên mặt đường âm u, xám ngắt, nhẽo nhợt
ra. Mấy c a hàng bán củ nâu hai bên c a ô, từng đống nâu chất
cao xám xịt như đống đất. Các nhà bán thừng, bán chiếu, mưa hắt
thâm xì.
Thành tên phố Mới, phố Hàng Nâu, rõ ràng chẳng phải chỉ vì ở
đấy liên quan đến việc bán chiếu, bán củ nâu gần bến Nứa, của
rừng bên kia sông lúc nào cũng đem sang đổ lên đấy. Mấy ai nhớ
được phố Mới, ấy là thời lão Tây buôn Đồ Phổ Nghĩa[1] đem quân
Tàu Cờ Vàng tận Vân Nam về, lên chiếm đất lập “Phố Mới”. Tông
tích cái phố Mới là như thế. Về sau này, Tây lấy tên Đồ Phổ Nghĩa
đặt cho phố Mới, phố Đồ Phổ Nghĩa! Người ta vẫn gọi là phố Mới và
bây giờ ai cũng chỉ biết phố Mới là cái chợ mua bán người, là nơi có
hiệu cầm đồ của người Tàu mở to nhất Kẻ Chợ. Và quanh chân c a
ô Quan Chưởng là phố Hàng Nâu.
Trông vào phố Mới lúc nào cũng thấy ủ ê, hốt hoảng, nh ng
nét mặt người ngoài đường, người đứng tụ tập, ướt át, bẩn thỉu. Cả
đến trong cái ngách c a hậu vào chợ Đồng Xuân cũng lôi ra được
một nút người sầu thảm như thế.
Ngày trước, Vũ Trọng Phụng đã viết “Cơm thầy cơm cô”, thiên
phóng s thấm thía về cái chợ buôn bán người ở phố Mới này. Các
nơi, các tỉnh quanh đây đói việc, chẳng ai bảo ai đều kéo nhau về
https://thuviensach.vn
phố Mới. Đêm hôm rúc ráy ngủ nghê ở đâu, ban ngày bò ra đứng
bày hàng từng lũ trên đường, trên hè. Các mụ Tú Bà làm mối người
te tái đi lại, thoáng trông đã đoán biết. Nếu nhầm, chỉ nhầm với mấy
con mẹ ngồi đổi tiền đằng c a chợ có chiếc thúng nhòi để trước
mặt. Các mụ ấy thường mặc áo nâu vải rồng đóng khuy, mở khăn
vấn lộn ngược. Mụ thì gầy đét cá mắm, mụ thì béo tròn như cái cối
xay. Nước da chì xám xỉn, con mắt đảo điên, đứng đây mà nhớn
nhác nhìn ra tận đằng kia.
Ngón tay vuốt mép ăn trầu cắn chỉ, cứ liến thoắng:
– Tôi kiếm cho cậu cái món được mã nhé. Thổi cơm, giặt giũ,
sai bảo, gì cũng nhanh tay, nhanh miệng. Lại kháu n a! Không ỡm
ờ đâu. Nói thật.
– Cụ thì cứ kén người chân tay chắc chắn, không tốn cơm mà
nuôi nh ng của nỡm, lóng ngóng động đâu vỡ đấy. Cụ cho giá xem
nào?
– Ờ, s a tốt, nhiều lắm, cứ vọt tứa ra thế kia. Người đồng
chiêm mà. Nghèo thì phải bỏ con ở nhà nuôi lã lần ra tỉnh đi ở vú
kiếm miếng thôi. Chứ người khỏe như trâu lăn ấy. Mợ định cho bao
nhiêu?
Đủ loại kẻ ăn người ở trong nhà. Con sen, con nhài, con nụ, vú
em, u già, cậu nhỏ, anh xe, thằng quýt. Cứ nhong nhóng đứng đám
đấy. Các mụ Tú Bà nháo nhác, táo tác chạy đèn cù tán tỉnh chào
hàng, nói thách, ngã giá, đòi tiền lót tay. Khách mua người đã đưa
người đi rồi đến lúc ngắm lại thấy có điều không ưng, quay lại, tìm
mụ, vẫn con mụ ấy, thế mà mụ phủi áo cãi phứa không biết, không
biết. Thế là một trận xỉa xói nhau lại um lên.
Người các làng cả năm cả tháng chẳng ra Kẻ Chợ đều phải
khiếp cái phố Mới. Sợ dây vào quân nặc nô. Lo thân một ngày kia
https://thuviensach.vn
mình chẳng may sa vào đây. Lại còn bọn thầy tướng, bọn bói bài
tây, bọn chơi cua cá bạc bịp nhan nhản khắp phố, lan sang cả Hàng
Đào, Hàng Ngang.
Một mụ béo núc t dưng đi theo dì tôi. Mắt cú vọ nhìn người
soi mói như lạ lùng lắm. Rồi bỗng bước lên trước mặt. Một tay mụ
vuốt lên tay áo dì tôi:
– May quá, trông cô cũng được nước đấy. Có nhà trên phố Tây
đương cần chị hai. Chị hai, cô khâu đầm, cô vú đầm ấy mà. Làm với
Tây, tha hồ ăn trắng mặc trơn. Khổ người như cô, mảnh dẻ, nhỏ
nhắn, Tây người ta ưa. Chị hỏi khí không phải, cô ra Kẻ Chợ có việc
gì thế?
Dì tôi lúng túng:
– Tôi, tôi…
Mụ kia ngoác loe miệng, lại quệt mép trầu, nói:
– Ng như cô chắc chẳng phải ra đây làm con nhài, con nụ đi
ăn đi ở như người ta.
– Vâng ạ.
– Trông biết ngay mà. Ra Vạn Bảo cầm đồ, chuộc đồ hả?
– Vâng ạ.
– Đấy cô xem, con mắt chị có tinh đời không. Cô em tính k đi
nhé. Muốn đi khâu đầm. Hay làm chị hai. Một bước lên quan rồi!
Dì tôi vẫn lúng túng:
– Em chẳng biết thế nào.
Mụ ấy buông một câu:
– Cô em cứ ngẫm cho cẩn thận. Chị chỉ mới cần em đưa chị
một đồng bạc, đồng thơm đồng thảo lấy may thôi. Mọi s sau này
hẵng hay.
https://thuviensach.vn
Rồi mụ không nói gì n a, ngoảy sang với một đám đứng hè
cạnh đấy, lại nói nói cười cười với đám bên kia. Như thể người ta
còn nghĩ. Đúng như quân bài tây lật mặt thoăn thoắt, chẳng biết thế
nào. Dì cháu tôi càng chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao.
Nhà cầm đồ Vạn Bảo có cái hẻm lối đi con con chỉ vừa một
người len vào, thì đến một c a mắt cáo thấy cái lỗ tròn. Dì tôi cầm
tờ biên lai, kèm với tiền chuộc, tiền lãi đặt trước ô c a. Chỉ thấy một
bàn tay gầy gụa đen như ám khói thuốc phiện thò ra lặng lẽ vơ cả
vào. Khác nào các thứ đồ cúng dâng ông Trằn tinh trong chuyện
Thạch Sanh. Nháy mắt, đã trông thấy cái áo bông của dì tôi được
gấp nếp cẩn thận, vẫn bàn tay xương xẩu lúc nãy lại thò đưa ra.
Rồi dì cháu tôi đã ra về đến gi a phố. Vẫn ngổn ngang, túi bụi
nh ng người trên lòng đường, dưới trời bụi mưa trắng sáng.
Cái mụ mối lái người lúc nãy lại ở đâu bước tới. Hay mụ vẫn
đứng rình đợi chỗ nào, ai biết được.
Mụ nói t nhiên, như vẫn đương dở câu chuyện. Dì tôi bây giờ
đã bạo dạn hơn, dì tôi đáp:
– Phúc đức quá, gặp bà có lòng giúp cho em. Mời bà lên chơi
nhà. Thế nào em cũng xin chu tất.
Mụ cười bả lả:
– Đành thế rồi. Nhất định phải lên cho biết nhà biết c a cô em
chứ. Còn phải một b a túy lúy cơm rượu n a chứ, còn đi lại dài lâu
nên tình nên nghĩa chứ. Nhưng lạy thánh mớ bái, phải có một mảy
làm của tin, “của tin gọi một chút này làm ghi”, có của tin mới có lòng
thành, em ạ.
– Mời bà lên chơi nhà… Bà cứ nói… cứ hỏi… nhà em ở chỗ
chợ Bưởi đi vào…
https://thuviensach.vn
– Được rồi, trò chuyện bây giờ xong với em, chị còn phải chạy
đi nói lại với người ta. Tây người ta nói chắc như đinh đóng cột ấy.
Thế nào chị cũng lên nhà. Nhưng mà phải…
– … Em g i bà…
– Bao nhiêu?
– … bà… một hào…
– Phỉ phui! Thèm vào! Lót tay cái rơm cái rác thế à?
Dì tôi nhăn nhó, khẩn khoản:
– Nói th c với bà. Chuộc cái áo này, em hết tiền rồi. Hôm nào
bà lên nhà, em xin… nhà em ở chỗ chợ Bưởi vào. Bà cứ hỏi, cứ
hỏi…
Đồng hào bạc trắng, dì tôi cầm trong lòng bàn tay. Mụ ấy nhổ
bẹt một bãi nước bọt xuống đất, để làm hiệu phỉ phui đốt vía rồi
chép miệng, cất cái giọng chán khê nằng nặc: “Từ sáng đến giờ!
Thôi cũng mở hàng lấy may…”. Mụ rón đầu ngón, nhặt đồng hào.
Như thể ghê tay không đáng cầm. Trên tàu điện, dì Năm ngồi cạnh
tôi, cũng như ban sáng. Nhưng mà sao thấy lạ. Tôi chưa thể hiểu
được công việc của người lớn. Cảm như có cái gì khác buổi sáng,
khi hai dì cháu ở nhà ra đi. Tôi cũng biết thế là dì Năm tôi sắp được
xuống Kẻ Chợ làm chân chị hai, chân khâu đầm cho nhà Tây. Tôi đã
trông thấy ở phố thanh vắng, cái nhà Tây có hai cánh c a sắt mở, ô
tô chạy ra chạy vào. Dì Năm sẽ được đi vào cái c a ấy à? Dì Năm
đi làm việc trong ấy à? Lấy ông bếp, ông bồi, ông tài xế hay lấy ông
Tây cũng nên. Lấy chồng Tây thì sung sướng, nhưng phải cái bị
người ta gọi là con me tây. Vùng tôi cũng chưa có ai như thế. Tôi
không biết tưởng tượng ra hơn bao nhiêu điều “ấy à” lộn xộn nhưng
ngạc nhiên.
https://thuviensach.vn
Đến hôm hẹn, cả nhà tôi cứ lẳng lặng kín đáo mà lại tấp nập
khác thường. Dì Năm quét sân, nhát chổi moi móc k lưỡng cả trong
góc vách. Thế mà lát sau, ông tôi lại ra quét lại. Tiếng chổi quẹt quẹt
lạ lạ, xôn xao thế nào. Nhà có khách, nhà sắp có khách ngoài phố
về.
Khách là cái bà mặt béo xám đã cầm của dì Năm một hào bạc.
Làm sao mà tôi ghét cái con mụ! Nhưng rồi tôi lại mong người ta
đến, đem dì Năm đi làm khâu đầm, làm chị hai ở nhà Tây. Rồi tôi lại
thấy cứ ghê ghê rợn rợn, như nhà sắp có ma, n a đêm gà gáy ma
hiện ra.
Mãi tận chập tối, dường như cả nhà ai cũng đều nghe, chẳng
thấy người bước vào ngõ. Đến quãng xâm xẩm thế này thì hết tàu
điện rồi. Vậy là dì Năm tôi bị lừa mất một hào.
Năm nay dì Năm đã kém một tuổi đầy tám mươi. Dì tôi và các
em tôi ở Sơn Tây. Chuyện này, chắc dì đã quên lâu.
[1]
Phiên âm của Jean Dupuis tên một nhà buôn người Pháp
https://thuviensach.vn
2.
Bắt rượu
Năm ấy, tôi về ăn tết quê nội ở Cát Động trong Hà Đông. Chưa
đến hăm ba Tết ông Công. Đã qua lễ sắp ấn. Cánh đồng Thanh Oai
phẳng lặng, xám ngắt phất phơ, khói từng cuộn suốt sang tận làng
Mai. Chẳng biết khói đốt gốc rạ sưởi ấm hay khói hun chuột.
Tôi theo u tôi về nhà bác Cả tôi ngoài xóm Đồng. Nhà nhà
quanh co, kề bên ruộng vào xóm. Không phải qua c a đình đằng bờ
đê sông Đáy, mà người ra vào xóm đi tắt ngoài cổng đồng lên. Có lẽ
ngày xưa, đây cũng là ruộng, rồi có người ra làm trại ở, mới thành
xóm, mà tên là xóm Đồng.
Đứng đây, trông thẳng lên đường cái tây. Vẫn còn nghe vòng
bánh xe sắt lăn rào rạt trên mặt đường đá và tiếng lá cọ xột xoạt
theo nhịp chân chạy của người kéo xe tay bánh sắt đội nón mê,
khoác chiếc áo tơi lá như con cò lẻo khoẻo bị hai cái càng tay tre
đóng gông ngang ng c.
Bên kia, nước đồng chiêm trắng bong xuống tận Chuôn Tre,
đồng Vàng giáp vùng trũng Ứng Hòa, Phú Xuyên… Tiếng còi tàu
hỏa tận cuối xa nghe như thuốn dài dưới làn nước lạnh tê.
Tới bờ ao đã nghe táo tác, nheo nhéo trong cổng ngăn tiếng
trẻ con học bài. Nh ng cậu học trò vừa học quốc ng , vừa học ch
ta, có cái đầu cạo trọc, đầu mới để sắp ăn tết, đuôi tóc hoa roi dài
thòng lõng xuống gi a lưng.
https://thuviensach.vn
Bác Cả tôi ngồi gi a đám trẻ con lau nhau nhấp nhô. Có đứa
đương mài son, mài m c trong cái nghiên. Có đứa nằm chổng
mông, viết phóng. Có đứa ê a… a… oa… i… oai… u… i… c… lét…
uếch… uých… Cái roi mây của bác Cả dứ lên dứ xuống, lặng lẽ ghê
rợn. Hai con mắt muốn bật con ngươi của mỗi cậu học trò liếc trộm
cái roi.
Gi a lúc ấy, ngoài đầu đồng có tiếng nhốn nháo. Người trong
xóm nghển mắt lên trên rào bờ duối trông ra. Rồi giật thót mình, ngơ
ngác. Từ ngoài đường cái gi a đồng, đương lúp cúp chạy vào một
đám người. Mũ trắng, quần áo vàng lốp. Lính đoan[1] trên tỉnh về.
Gần đến đầu bờ ao, trông rõ ra người Tây đoan đi đầu, cao lênh
khênh. Người Tây mặc áo vàng, quần vàng, tay cầm ngang cái
thuốn sắt dài.
Đám người trong xóm luống cuống, s ng sờ, không biết làm
thế nào. Cho đến lúc chẳng biết ai trong bờ rào nào hét to tướng
lên:
– Tây đoan về khám rượu!
Bây giờ dường như mới nhớ ra, sợ quá. Tất cả ù té chạy.
Trong lúc, Tây và lính đoan đã ập đến nơi.
Đám học trò quanh bác Cả đương thi nhau học gào từng ch ,
bỗng im bặt. Nhưng các cậu ấy hãi cái roi của bác tôi, vẫn không
dám ngóc đầu trông ra.
Bác Cả đứng phắt dậy. Bác bước lại trước án thư. Bác
nghiêng chiếc mâm bồng, lấy ra trong chân mâm một cái chai dài
ngoẵng. Trong chai, đ ng độ hơn cút rượu ngấn lên già lưng chai.
Bác bỏ chai rượu lậu vào túi trong cái vạt áo năm thân ngay trước
bụng. Rồi bác lại ngồi xuống chỗ cũ, chùm lên vai tấm chăn khố tải
https://thuviensach.vn
xùm xòe. Cầm chiếc roi mây – lại như lúc nãy, gõ đẹt đẹt xuống mặt
chiếc phản mọt, nói dõng dạc:
– Đứa nào cứ yên chỗ ấy. Học đi!
Bọn lính đoan đã vào gi a sân. Người Tây đoan, tây lai, nói sõi
như ta:
– Ông đồ ngồi bảo học à?
– Vâng ạ.
– Phải chắp tay nói: “Bẩm quan lớn nhà đoan, vâng ạ” mới lễ
phép chứ!
– Bẩm quan lớn nhà đoan…
– Nhà ông đồ có nấu rượu lậu không?
– Bẩm quan lớn nhà đoan, không ạ.
– Quan khám thấy có rượu thì ông đồ đi tù mười tám tháng
nhé. Sắp tết rồi mà phải ra tỉnh ngồi nhà pha, khổ vợ con lắm đấy.
Bác tôi chẳng biết nói thế nào, chỉ thỉnh thoảng buông một câu
“vâng ạ” đánh nhịp ngẩn ngơ.
Người Tây đoan cầm chiếc thuốn sắt chọc lên bàn thờ. Cái
thuốn nhọn hoắt như ng i được hơi rượu, tinh thế. Nó đẩy nghiêng
đế cái mâm đồng. Nhưng đế rỗng, chẳng có gì cả.
Tôi biết thế rồi, tôi vẫn run cầm cập. Có lẽ mặt tôi tái mét. Bởi
vì chai rượu lậu vừa ở đế mâm bồng bỗng chui vào trong áo bác tôi,
ngay cạnh đây thôi. Nó ng i thấy hơi rượu thì nguy tai.
Tây đoan quay lại, hỏi u tôi:
– Cái nhà chị này đến cất rượu lậu về bán tết à?
Bác tôi nói:
https://thuviensach.vn
– Không, thím nó là người nhà ở ngoài tỉnh về chơi.
Tây đoan quát:
– Người nhà cũng khám!
Rồi Tây đoan nhấc cái tay nải nâu của u tôi lên. Đầu thuốn sắt
gõ vào. Chỉ nghe tiếng lịch bịch xống áo vải. Tây đoan buông cái tay
nải xuống. Rồi trỏ ngọn thuốn sắt vào bác Cả:
– Thầy đồ giả vờ, thầy đồ giấu rượu trong chăn. Chúng mày
khôn lắm. Ông đã bắt được chúng mày cất rượu trong chăn nhiều
lần rồi. Muốn sống thì bỏ cái chăn ra.
Nom bác tôi lúc ấy cứ như con gà mái ấp xòe cánh. Chưa kịp
nhấc cái chăn trên vai, đầu thuốn của thằng Tây đã quều xuống. Bây
giờ thì cái thuốn sắp chọc đến chỗ, chỗ chai rượu ở bọng áo bác tôi.
Tôi cuống queo, nắm quanh váy u tôi. Cái chăn rơi xuống rồi, mà
bác tôi vẫn ngồi trơ ra đấy. Tôi càng sợ.
Tây đoan ngắm nghía, rồi lại quát:
– Thầy đồ đứng dậy!
Bác Cả tôi từ từ đứng dậy. Hai con mắt toét nhoèn viền vải tây
của bác tôi vẫn gấp gay nhìn thẳng, chẳng khác lúc nãy. Người Tây
đoan im một lát rồi lạnh lùng nói:
– Chỉ làm mất thì giờ các quan!
Rồi Tây đoan xách cái thuốn bước ra. Nhưng còn như nghi
ngờ, như tinh nghịch, như quen tay, lại chọc thuốn lên mái một cái
n a. Tàu lá cọ thủng, trông thấy cái lỗ tròn tròn trên trời.
Tây, lính và các người xem ra cả rồi, bác Cả lại ngồi xuống.
Nhưng đám học trò quanh bàn đã biến mất từ lúc nào.
https://thuviensach.vn
Bọn lính đoan đi sục thuốn khắp các vườn và bờ rào quanh
xóm. Xem có chỗ nào chôn giấu rượu, bã rượu. Không thấy gì, cả
bọn đùng đùng kéo vào xóm trong.
Đến tận trưa, đám lính nhà đoan khám rượu mới trở ra đường
cái tây, lôi theo nhiều thứ bắt được ở xóm dưới bãi. Cái nồi đồng ba
mươi với lưng nồi bã, một thúng gạo nếp đã vo sẵn. Mấy cái bong
bóng trâu, có cái bẹp rúm, có chiếc đã phồng rượu. Đủ đồ nghề, cái
cần trúc xe điếu chuyên nước cất, cái mai rùa gỗ, cái chõ… Nhà ai
lắm đồ nghề nấu rượu thế mà không tẩu tán kịp! Chúng nó bắt được
tuốt. Đứa nào báo Tây đoan mà để hại người ta thế. Tết nhất đến
nơi. Bắt được rượu đích xác, chỉ bởi có đứa báo thôi. Định làm mẻ
rượu bán tết mà hóa ra sạt nghiệp. Lại còn tù tội n a.
Bọn lính đoan đi trước. Đằng sau, lũ lượt người cung cúc theo.
Không biết người nhà hay tuần phiên khiêng các thứ nhà đoan vừa
bắt được.
Có cả chú bếp Mỡ hớt hải từ trong xóm ra chạy lẫn vào đám
bắt rượu.
Nhiều người gọi:
– Chú bếp!
Chú bếp Mỡ quay lại, trông thấy tôi, nói to:
– A thằng cu Bưởi về quê ăn tết à? Chú đi tù rượu đây. Mẹ con
cháu ở nhà chơi nhé.
Đi tù rượu! Câu nói cứ ngọt như không. Tôi vẫn nghe kể ngày
trước chú bếp Mỡ đã đi lính sang Tây. Khi về, chẳng có lon đội, lon
ách gì, chỉ được người ta gọi chức bếp, bếp Mỡ. Sang tận bên Tây
về rồi chú lại vẫn đi cày thuê, đào ao, rào vườn cho người ta. Vẫn
https://thuviensach.vn
như ngày trước. Nh ng buổi chăn trâu, chú toàn kể các chuyện bên
Tây. Về quê bao giờ tôi cũng đến nhà chơi nghe chuyện đường xa
của chú bếp Mỡ.
Chú ấy nói thế nào? Chú tù rượu. Chú đi tù rượu? Chú vừa rảo
chân vừa xỏ tay khoác cái khố tải, cười hí hí và nói thế.
Thím bếp Mỡ với lũ con đứng đầu xóm nhìn theo. Đến lúc cả
bọn với các người nhà đoan khuất vào gốc nh ng cây muỗm, thím
bếp Mỡ trở vào, đi gi a đám người đương cười hê hê. Qua các ngõ,
nghe người ta nói cợt: “Thế là t dưng giời cho nhà bếp Mỡ cái tết
nhé, sướng nhé”. Chẳng biết thím bếp Mỡ đùa hay thật, thím cứ
chép miệng lẩm nhẩm: “Sướng, sướng quá!”.
Thì ra Tây đoan khám rượu, bắt được cái lò nhà ông lý hào [2]
ngoài bãi ngô dưới bờ sông. Rõ ràng có đứa xấu bụng đi báo ăn
thưởng. Nồi rượu còn đương đun. Không tẩu tán được mảy may.
Ông lý hào phải vội nhờ người đi bảo chú bếp Mỡ theo tang
vật lên tỉnh. Nói một câu thế, chú đã biết lệ. Có gì thì chú bếp cứ
đứng ra nhận nhà chú nấu rượu rồi chú vào ngồi nhà pha. Qua tết,
sang giêng còn phải tù hay được về, đợi ra tòa xong rồi cái ấy sẽ
liệu với nhau sau. Ở nhà, vợ con chú bếp được ông lý hào hẵng đưa
món tiền chục bạc ăn tết đã.
Bên làng Mai còn nhiều nhà nấu rượu lậu, có nh ng người đã
quen đi ở tù thay người bị bắt rượu như thế. Tù mấy ngày mấy
tháng, đã có giá hẳn hoi. Có người ngồi tù thuê đến mười tám, hai
mươi tháng. Chủ rượu ở nhà phải nuôi vợ con, lại đóng thuế thân
cho người tù thay đến hai năm. Thôi thì đằng nào cũng vậy, người
khôn của khó, ở nhà cũng phải m a mật mới kiếm nổi miếng.
https://thuviensach.vn
Cánh đồng vẫn im phắc. Không biết tại rét quá, người ta rúm
lại hay vì giá buốt đến cóng cá mà tưởng ra như thế. Đám khói gốc
rạ vẫn nghi ngút đằng xa, càng vắng ngắt vắng ngơ.
Bỗng một cậu học trò bấy giờ mới thò đầu chui trong gầm phản
ra. Bác tôi điềm nhiên bảo anh trưởng tràng:
– Sang giêng, ngoài rằm khai trường nhé. Bảo chúng nó thế.
Rồi bác Cả rút chai rượu lậu trong bụng áo ra, lại cất vào dưới
lỗ hổng ở chân mâm bồng, như lúc nãy.
[1] Đoan (tiếng Pháp: douane), cơ quan thu thế, bắt thuế thời Pháp
[2] Lý hào: người bỏ tiền ra mua chức lý trưởng
https://thuviensach.vn
3.
Cái xe đạp
Vào nh ng năm ấy, xe đạp còn hiếm, không lắm như bây giờ.
Không phải nhà nào cũng có xe đạp và ai cũng có xe đâu. Với nhiều
người, xe đạp là một thèm muốn cao cao. Mác xe của các hãng
khác nhau ở Sanh Ê-chiên bên Pháp ai cũng nhớ vanh vách và
phân biệt mọi đặc điểm ngóc ngách cái phanh, cái lốp, mặc dầu
không mấy người có xe đạp.
Chưa bao giờ tôi có xe đạp. Đến năm 1945, tôi rời ra phố, mới
tậu xe đạp – hồi ấy chưa gọi là mua xe đạp, mà người ta nói trịnh
trọng: “Tậu xe đạp” như tậu ruộng. Cái xe đạp đầu tiên của tôi trơ
trụi có khung và bánh gọi là xe cởi truồng.
Xe đạp, cái xe đạp ước ao. Muốn có, nên lúc nào cũng thèm
như có thật. Cả làng tôi cũng chỉ một ông đội Lộng có xe đạp. Trên
đầu chợ, bên vườn Bàng, ông Tây đen ma tà Ca ra ta Sanh đi gác
thuê cũng có một cái – chẳng biết của sở cho mượn đi, hay của ông.
Mỗi khi nghe chuông kính coong, kính coong tận ngoài đầu đường,
người trong xóm đã chạy à ra xem xe đạp qua. Quái thật, bây giờ
không thấy ai tập xe đạp, rồi đến cả trẻ con, cũng t nhiên biết đạp
xe nhoay nhoáy. Ngày trước, phải tập xe ngã lên ngã xuống, mướt
mao mồ hôi mồ kê. Ở dốc đường Thành, hàng bác cả Đức cho thuê
xe đạp, có nh ng cái xe tã dành riêng cho thuê tập. Gom tiền lại,
thuê giờ. Thằng gi xe, thằng trèo lên yên. Cũng phải bao phen
choét đầu gối. Có lẽ vì bây giờ nhiều xe đạp, lúc nào cũng thấy
https://thuviensach.vn
người đạp, chỉ trông người ta đạp xe mà rồi trẻ con t nhiên cũng
biết đi.
Nhưng có một cái xe đạp thời ấy cũng khá nhiêu khê. Không
phải chỉ bởi mua xe nhiều tiền. Không phải vì công phu hầu hạ, s a
sang nó. Mỗi ngày, đi đâu về, lại lau xe, ngày nào cũng lau từ hang
hốc cái khung, cái bàn đạp, cái nan hoa. Người ta không chểnh
mảng với xe như bây giờ. Chỉ nh ng tốn kém rắc rối xung quanh cái
xe đạp cũng đã lôi thôi rồi. Bây giờ tôi vẫn lau xe đạp theo thói quen
k lưỡng như thế.
Tôi đương đạp xe qua cầu Đơ thị xã Hà Đông. Có hai người
đội xếp bỗng đạp theo. Nói cho đúng, tôi đã trông thấy hai người đội
xếp đứng ở đầu cầu. Nhưng không ngờ họ lại đương chú ý đến tôi.
Vâng, đi đâu mà chẳng phải nhìn đội xếp, dù là nh ng người
ngay ngắn, lương thiện. Bởi vì hầu như các ông đội xếp cứ trông
thấy mặt ai là rình bắt, rình khám, rình phạt. Từng quãng trong thành
phố, lại thấy một đội xếp Tây đội mũ lưỡi trai, đeo súng lục, đạp xe
Pơgiô bánh to (lốp 650). Hai đội xếp ta đội mũ cát đít vịt lợp vải vàng
đi theo hai bên. Hai người này cũng vắt vai cái dây da, bao súng lép
kẹp, mà ai cũng biết trong nhét giẻ lau xe. Nhưng con mắt chăm
chẳm, rình rình. Thềm nhà có rác, phạt. Phơi quần áo, tã lót, chiếu
trước c a, phạt. Cống bẩn, phạt. Đánh nhau, phạt cả đôi bên. Ven
đường khắp Hà Nội không đâu có nhà đái công cộng. Mà đái đường
thì phải phạt hẳn sáu hào. Bởi vậy, trẻ con trong làng đi phố mót đái
cứ vừa đi vừa đái ra quần. Các bác cu li kéo xe thì vừa chạy vừa đái
vào bẹn. Chả là hình như không có lệ phạt người vừa đi vừa đái.
Nhưng cũng chẳng có cơn cớ gì cũng rút giấy biên phạt, thu tiền.
Người ta nói các bóp đã định trước số tiền phạt thu hàng tháng rồi,
đội xếp cứ trông đấy mà liệu đi phạt cho đủ.
https://thuviensach.vn
Đến gi a cầu, một người đội xếp đạp xe vượt lên trên tôi.
– Này này… Phanh lại.
Tôi lúng túng tìm cái tay phanh. Tôi bóp phanh bánh trước két
két…
– Bánh sau!
Phúc đức phanh bánh sau ăn ngay. Chiếc xe tôi đứng kh ng
lại.
Hai người đội xếp châu đầu vào tôi.
– Xe không phanh à?
– Phanh ăn thế mới đứng lại được ạ.
– Chỉ có phanh bánh sau!
Tôi nhăn nhó, rụt rè nói khó. Rồi đưa một hào bạc.
Người đội xếp hầm hầm:
– Không rỡn với nhà anh đâu. Xe lại mất cả gác đờ bu. Gặp
người ác thì biên lai phạt rồi đấy, biết chưa. Đồ nhà quê, thôi cút.
Hú vía, xe tôi đi mượn! Tôi lặng lẽ nghĩ có lẽ hai cái lão đội xếp
ấy cũng còn có phần nhân đức. Xe không chắn bùn, phanh bánh
trước không ăn, mà chỉ phải đút có một hào cho hai người chia
nhau.
Thời ấy, nuôi được cái xe đạp, nhọc lắm. Xe phải gắn một
mảnh sắt, mảnh kền khắc tên, số nhà, tên phố của chủ xe. Không
có, phạt. Đèo nhau, phạt. Trông cái xe mướp quá, ngứa mắt, cũng
phạt. Ba đồng một tạ gạo Sài Gòn lẫn gạo gãy hàng vừa, giá trị một
đồng bạc không phải nhỏ. Thế mà thuế xe đạp mỗi năm đóng mất
một đồng bạc, được lĩnh về một miếng lập lắc bằng đồng vặn vít đeo
vào xe. Đầu năm, chỉ hết tháng giêng, đội xếp đã đứng đường tóm
phạt các xe chưa có lập lắc mới.
https://thuviensach.vn
Chập tối, xe phải có đèn. Không thì một tay cầm nắm hương
vung lên. Cái đèn ló phao dầu tây cắm vào cọc đèn trước ghi đông,
khói mù mịt, khét lẹt.
Có việc ra phố chập tối, phải sắp sẵn từ chiều cái phao đầy
dầu. Thế nào mà khi về, qua đường Quan Thánh, gió hồ thổi lên,
đèn tắt ngóm mất.
Người đội xếp lù lù hiện ra như ma hồ Trúc Bạch lên.
– Ê! Xe không đèn, đứng lại!
– Đèn tôi mới vừa tắt.
– Không biết, a lê, về bóp!
[1]
Tôi dắt xe đi với người đội xếp về sở cẩm
Hàng Đậu. Xe
không đèn – hay xe đèn tắt cũng thế, tôi đã biết phải nộp phạt ba
hào. Không có tiền thì để cái thẻ thuế thân và xe đạp lại, mai đem
tiền đến. Nếu không, phải cất công vào ngồi nhà giam sở cẩm, chịu
đói khát hai mươi bốn tiếng, đúng giờ này ngày mai thì được đem xe
về. Còn tiện nhất thì khấn anh đội xếp một hai hào, chắc được thả
cho đi ngay.
Nhưng tôi theo cách “vào ngồi nhà giam”. Chẳng phải vì
bướng, mà bởi một lẽ dễ hiểu. Xe đạp đi mượn, tôi lại không có tiền,
mà lúc nào tôi cũng thong thả thừa thì giờ. Thế mà chưa dứt nỗi lo.
Ngồi nhà giam, nhưng phải làm sao cho trông thấy cái xe đạp cả
đêm, sợ nó nẫng mất. May cũng có nhiều người đi xe không đèn,
phải bắt giam, chịu khó ngồi nhà muỗi, để khỏi nộp phạt. Xe chất
trước c a buồng chồng đống cao hơn đầu người. Nhưng lại nghĩ lo
xa nỗi tối mai được thả vào giờ này, xe vẫn không đèn. Dẫu không
dám đi, chỉ dắt về tận nhà, ngộ chẳng may gặp đội xếp, nó lại bảo
mình đương đi vừa nhảy xuống, cứ phạt, thì rồi không biết ra sao
đây. Lôi thôi quá!
https://thuviensach.vn
Cái buồng giam ở bóp Hàng Đậu khai tịt cả mũi. Suốt đêm,
người lúc nhúc ngồi bó gối, chen nhau. Muỗi đói đốt, gáy sần lên
như gai gạo.
Vậy mà nghe kể hôm nọ cũng có người thắt cổ. Ở cái chỗ đêm
ngày đông ních như thế này, không hiểu thắt cổ vào lúc nào mà chết
được.
[1]
Cẩm do tiếng Pháp: commissariat.
https://thuviensach.vn
4.
Nh ng nhà hàng xóm
Bây giờ bốn bên hàng xóm, năm này qua năm khác, dường
như bao giờ cũng vẫn thế. Người lớn già đi và cứ mỗi năm càng lắm
trẻ con. Khi nào cũng nghe tiếng trẻ cười nói inh ỏi.
Ừ, mà khác thật, cái làng đã được đổi thành thị trấn – thành
phường. Cái xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4 gọn ghẽ. Không còn chỉ
quanh quẩn bên này bên kia cũng chia ra làng Tân, làng Nghè. Làng
Nghè lại còn nh ng xóm Trong, xóm Gi a, xóm Trẽ, xóm Ngoài, rắc
rối đến lắm tên.
Mấy nhà quanh quanh tôi chẳng có gì khác. Bác đôi Lạc bằng
tuổi tôi vẫn đi công tác. Bên kia bờ chuôm, ông bà Tám đã nghỉ hưu.
Thỉnh thoảng lên chơi cậu con trai làm bác sĩ trên Thái Nguyên. Mấy
nhà bà con Việt kiều ở Thái La...
 





