BÁO XUÂN 2026

TÌM HIẺU VỀ CÁC NHÀ KHOA HỌC


BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7495249072521_a4800240342df96a17101276cdb0f04a.jpg Z7495249129664_5491118684fdd34984640a94b7a38ffe.jpg Z7495249143754_057e34276806093153fec1672c3ff618.jpg Z7495249143855_04da707cd20f00be5fa876398db68164.jpg Z7495249126993_60642d5c877ce159fd89cf4abd70785e.jpg Z7495249132130_dbedac040ca42fea2f009123a2c792f1.jpg Z7495249070337_9ce3a2338897fc16c8b7094a6b555c64.jpg Z7495249061932_27ca5568457e83ccc4659433e6ebef53.jpg Z7495249056450_1be56e8b2ecf117273e8ac07e84af633.jpg MA.jpg CHI.jpg CHI.jpg CHI_1.jpg CHI_4.jpg 5.jpg 12.jpg CHI_O.jpg

    THƯ VIỆN TRƯỜNG TH NAM VIÊM MỞ RA CHÂN TRỜI TRI THỨC

    MỖI HỌC SINH BIẾT YÊU SÁCH LÀ 1 HẶT MẦM VĂN HOÁ ĐƯỢC GIEO TRỒNG. THƯ VIỆN LÀ TRÁI TIM HỌC THUẬT CỦA NHÀ TRƯỜNG 💕💕

    CHÀO XUÂN MỚI


    DANH NGÔN SÁCH

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri

    Chuyện cũ Hà Nội tập 1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Vương Thị Thu Hà
    Ngày gửi: 15h:51' 23-11-2024
    Dung lượng: 1.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    Lời giới thiệu
    Năm v a qua, Chuyện cũ Hà Nội đã đư c Ủy ban nhân dân
    Thành phố Hà N i tặng giải thưởng Thăng Long 1997-1998. Thật
    x ng đáng, vì trong khoảng chục năm trở lại đây, Chuyện cũ Hà Nội
    là m t tập ký s thật đặc sắc về đề tài Hà N i.
    Có thể coi đó là m t th Vũ Trung tùy bút thời hiện đại, vì v i
    nh ng mẩu chuyện không dài, Tô Hoài v i tư cách m t ch ng nhân
    đã ghi lại “muôn mặt đời thường” của cái Hà N i thời thu c Tây. Tuy
    m i qua sáu, bảy chục năm mà dường như không mấy ai nh n a,
    thậm chí đã trở thành chuyện đời xưa.
    Chuyện cũ Hà Nội ở lần xuất bản đầu tiên vào năm 1986 m i
    chỉ có bốn chục truyện. T i lần tái bản này sách gồm 114 chuyện.
    Không gian đư c mở r ng, thời gian đư c dãn dài, chuyện đời,
    chuyện người phong phú lên nhiều. Điều đáng nói trư c hết là ở lần
    in đầu, có lẽ nặng lòng v i vùng quê ven đô sâu nặng ân tình nên
    các câu chuyện cũng nghiêng về nh ng miền đất ngoại ô. Nay thì cả
    m t n i thị Hà N i dàn trải trong tập sách: Băm sáu phố phường, Cái
    tàu điện, Phố Mới, Phố Hàng Đào, Phố Hàng Ngang, Phố Nghề, Hội
    Tây, Bà Ba (Bé) Tý, Tiếng rao đêm, Cơm đầu ghế, Chiếc áo dài,
    Ông Hai Tây, Cây Hồ Gươm v.v. Chỉ nêu vài tên bài như thế cũng
    thấy s hiện diện đa dạng của cái n i thành đa đoan lắm chuyện.
    Phố Hàng Đào v i nh ng “m Hai” khinh khỉnh, vàng ngọc đầy cổ
    đầy tay, phố Hàng Ngang v i nh ng chú tây đen thờ l n, chủ hiệu
    vải, sinh hoạt bí hiểm song cũng đa tình, Phố M i có nhà cầm đồ
    Vạn Bảo “l t da” dân nghèo, có cả ch đưa người, m t th ch môi

    https://thuviensach.vn

    gi i thuê mư n – cả mua bán – nh ng vú em, thằng nhỏ, con sen…
    nh ng thân phận nghèo hèn đem thân làm nô b c cho thiên hạ.
    Rồi cái tầu điện leng keng, nh ng ngày H i Tây bên bờ Hồ
    Gươm, nh ng tà áo dài t thuở thay vai và nhu m nâu Đồng Lầm
    đến áo Lơ Muya sặc s mốt thời trang m t thời…
    Cái hay ở Tô Hoài là nh ng cái lăng nhăng sự đời ấy (ch
    của Tản Đà) đã có ít nhiều người ghi lại. Chuyện ông Hai Tây làm
    xiếc, Bà Bé Tý lên đồng… sách báo đã t ng đề cập. Nhưng lần này
    Tô Hoài lại nhìn ra nh ng nét hoạt kê m i; hay cũng đã nhiều người
    viết về quà Hà N i nhưng các bài Chả cá, Bánh cuốn, Phở của Tô
    Hoài có nh ng thông tin hay, m i mẻ, ngay như Nguyễn Tuân cũng
    chưa phát hiện hết. Cũng như các loại tiếng rao hàng ban đêm thì
    Thạch Lam đã ghi chép vậy mà ở Tiếng rao đêm của Tô Hoài vẫn có
    nhiều ý t m i.
    Như vậy đó, v i vài nét ký họa, Tô Hoài đã vẽ đư c cái thần
    thái của m t thành phố nghìn tuổi đang đô thị hóa gấp gáp trở thành
    n a Tây n a ta, n a cũ n a m i, n a sang n a quê…
    Có m t Hà N i nhố nhăng như thế thì cũng có m t Hà N i lầm
    than.
    Cảnh lầm than ấy càng rõ nét hơn ở các làng quê ven n i. Th
    c i, th giấy làm quần quật ngày đêm mà vẫn đói khổ, rồi nạn Tây
    đoan sục bắt rư u lậu và nh ng người dân lành đói khổ phải nhận đi
    “tù rư u thay” để v con ở nhà có người chu cấp. S bần cùng ấy
    hằn sâu nhất trong chuyện Chết đói. Nạn đói năm 1945 đã làm v i đi
    của làng Nghĩa Đô bao người. Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao
    nếu không có m t người quen ý t trả công dạy học lũ con ông ta
    bằng gạo thì “không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh
    hay dì Tư không, hay còn thế nào n a”.

    https://thuviensach.vn

    Nh ng câu chuyện “tang thương ngẫu lục” ấy đủ giúp bạn đọc
    trẻ nhận thấy thời nay hơn hẳn thời cũ, cu c sống khá giả hơn trư c
    nhiều lắm. Cho nên nói chuyện cũ mà tư tưởng sách không hề cũ.
    Trong sách còn m t mảng kể về phong tục. Nhiều cái nay
    không còn. Như các đám múa sư t thì đêm Rằm Trung Thu ở
    nh ng phố Hàng Ngang, Hàng Đường và đánh nhau chí t , quang
    cảnh nh ng ngày áp tết dường như cả nư c kéo về Hà N i… Ở ven
    đô thì h i hè đình đám, khao vọng, đám ma… Các bài Làm ma khô,
    Thẻ thuế thân, Khổng Văn Cu v a bi v a hài. Có m t bài tuyệt hay,
    đó là bài mô tả đám rư c Thánh Tăng. Đích thị là m t lễ h i phồn
    th c có t đời nảo đời nao mà t i tận thời Pháp thu c vẫn còn tồn
    tại, lại ở ngay sát nách kinh kỳ. Bấy nhiêu hình ảnh không bao giờ
    xuất hiện n a nhưng tôi c nghĩ rằng ngày nay, ít ra thì nh ng nhà
    làm phim lịch s , viết truyện lịch s , d ng kịch lịch s rất cần đến.
    Chuyện cũ Hà Nội chính là m t tập ký s về lịch s . Thể này đòi
    hỏi ở nhà văn ngoài tài văn chương còn phải có vốn liếng kiến th c
    về cu c đời, có năng l c quan sát và k thuật phân tích, để trên cơ
    sở đó trình bày đư c nh ng điều cần nói t nh ng s vật, s việc,
    con người. Tô Hoài đã làm đư c như vậy. S hiểu biết của ông về
    Hà N i thời thu c Pháp thật phong phú, thêm s quan sát tinh, phân
    tích sắc, văn lại đậm đà và hóm, các mẩu chuyện dù là chân dung
    m t nhân vật, ký họa về m t cảnh, hay giãi bày m t tâm s , đều hấp
    dẫn, vì đó là nh ng điều m i lạ (dù là chuyện thời cũ) và rung đ ng
    lòng người vì nh ng tình cảm chân thành nhân hậu.
    Chuyện cũ Hà Nội còn có thể coi là m t tập điều tra xã h i học
    về Hà N i thời n a đầu thế k XX bằng văn chương. Bất luận bạn
    đọc ở gi i nào cũng có thể tìm đư c nh ng điều mình cần biết mà

    https://thuviensach.vn

    chưa biết. Chuyện cũ Hà Nội đư c giải thưởng Thăng Long có lẽ
    còn vì lẽ đó.
    NGUYỄN VINH PHÚC
    10.1999

    https://thuviensach.vn

    Ăn cơm m i nói chuyện cũ
    (Tục ng )

    https://thuviensach.vn

    1.
    Phố Mới
    Đứng đầu phố Hàng Mã, chỗ ngã tư Hàng Đường trông sang
    phố Mới – phố Hàng Chiếu bây giờ, hai hàng cây nhội, vòm lá đen
    sẫm, thân rêu mốc thếch, dây mộc leo quấn sởn lên. Mặt đường lúc
    nào cũng thẫm mưa bụi nhớp nháp. Hoa nhội li ti rụng đỏ xỉn lẫn với
    bùn vết chân người đi chen nhau. Phần nhiều là người váy nâu áo
    đụp ở đầu ô Quan Chưởng vào.
    Mấy năm tôi đã thôi ở Hàng Mã về Nghĩa Đô rồi, nhưng lúc
    nào đi qua phố Mới, vẫn thấy tương t thế. Năm ấy, áp tết, tôi đi với
    dì Năm ra nhà Vạn Bảo phố Mới.
    Nhà Vạn Bảo ngay gi a phố. Đi ra bờ sông, nhà Vạn Bảo ở tay
    phải. Lúc nào cũng có chú khách gầy móp xương hóc, cởi trần ngồi
    cái ghế đẩu canh c a. Nhà cầm đồ Vạn Bảo, chủ là người Tàu.
    Người cầm đồ cho vay lãi, làng tôi vô khối. Chỉ vài đồng bạc
    cũng thành cái vốn còm để có thể cầm bán quanh quẩn. Chiếc thắt
    lưng, bộ xà tích, chục cái bát mẫu, cái mâm, cả bát ăn cũng đem
    cầm được. Lúc túng, coi như gi t nóng.
    Nhà tôi thường túng bấn như nhiều nhà trong xóm. Nhưng
    chẳng gì cũng có khung c i đương làm, lại n a các dì tôi đều chưa
    chồng, cho nên phải gi mẽ đôi chút. Khi có cái cầm bán, chẳng
    dám đánh tiếng hỏi han xung quanh. Mà phải đem đi cầm tận ngoài
    Kẻ Chợ. Mà nào của nả báu ngọc cho cam. Cái áo the, cái quần

    https://thuviensach.vn

    lĩnh, cái mâm thau… Nhưng cốt là còn lành lặn, “các chú khách” nhà
    Vạn Bảo mới cho cầm.
    Dì Năm tôi đi chuộc cái áo cánh bông. Ngày thường dù rét
    mướt đến đâu, có thể cứ xống áo cũ vá đụp lên, thế nào xong thôi.
    Nhưng tết nhất đến nơi rồi, không thể như vậy được. Cái áo bông
    của dì tôi, xa tanh đen lót lụa màu cánh chả, áo mồi đấy.
    Mưa bụi. Có lẽ mưa bụi đã nhiều ngày. Nh ng cây nhội che
    mái nhà, người qua lại trên mặt đường âm u, xám ngắt, nhẽo nhợt
    ra. Mấy c a hàng bán củ nâu hai bên c a ô, từng đống nâu chất
    cao xám xịt như đống đất. Các nhà bán thừng, bán chiếu, mưa hắt
    thâm xì.
    Thành tên phố Mới, phố Hàng Nâu, rõ ràng chẳng phải chỉ vì ở
    đấy liên quan đến việc bán chiếu, bán củ nâu gần bến Nứa, của
    rừng bên kia sông lúc nào cũng đem sang đổ lên đấy. Mấy ai nhớ
    được phố Mới, ấy là thời lão Tây buôn Đồ Phổ Nghĩa[1] đem quân
    Tàu Cờ Vàng tận Vân Nam về, lên chiếm đất lập “Phố Mới”. Tông
    tích cái phố Mới là như thế. Về sau này, Tây lấy tên Đồ Phổ Nghĩa
    đặt cho phố Mới, phố Đồ Phổ Nghĩa! Người ta vẫn gọi là phố Mới và
    bây giờ ai cũng chỉ biết phố Mới là cái chợ mua bán người, là nơi có
    hiệu cầm đồ của người Tàu mở to nhất Kẻ Chợ. Và quanh chân c a
    ô Quan Chưởng là phố Hàng Nâu.
    Trông vào phố Mới lúc nào cũng thấy ủ ê, hốt hoảng, nh ng
    nét mặt người ngoài đường, người đứng tụ tập, ướt át, bẩn thỉu. Cả
    đến trong cái ngách c a hậu vào chợ Đồng Xuân cũng lôi ra được
    một nút người sầu thảm như thế.
    Ngày trước, Vũ Trọng Phụng đã viết “Cơm thầy cơm cô”, thiên
    phóng s thấm thía về cái chợ buôn bán người ở phố Mới này. Các
    nơi, các tỉnh quanh đây đói việc, chẳng ai bảo ai đều kéo nhau về

    https://thuviensach.vn

    phố Mới. Đêm hôm rúc ráy ngủ nghê ở đâu, ban ngày bò ra đứng
    bày hàng từng lũ trên đường, trên hè. Các mụ Tú Bà làm mối người
    te tái đi lại, thoáng trông đã đoán biết. Nếu nhầm, chỉ nhầm với mấy
    con mẹ ngồi đổi tiền đằng c a chợ có chiếc thúng nhòi để trước
    mặt. Các mụ ấy thường mặc áo nâu vải rồng đóng khuy, mở khăn
    vấn lộn ngược. Mụ thì gầy đét cá mắm, mụ thì béo tròn như cái cối
    xay. Nước da chì xám xỉn, con mắt đảo điên, đứng đây mà nhớn
    nhác nhìn ra tận đằng kia.
    Ngón tay vuốt mép ăn trầu cắn chỉ, cứ liến thoắng:
    – Tôi kiếm cho cậu cái món được mã nhé. Thổi cơm, giặt giũ,
    sai bảo, gì cũng nhanh tay, nhanh miệng. Lại kháu n a! Không ỡm
    ờ đâu. Nói thật.
    – Cụ thì cứ kén người chân tay chắc chắn, không tốn cơm mà
    nuôi nh ng của nỡm, lóng ngóng động đâu vỡ đấy. Cụ cho giá xem
    nào?
    – Ờ, s a tốt, nhiều lắm, cứ vọt tứa ra thế kia. Người đồng
    chiêm mà. Nghèo thì phải bỏ con ở nhà nuôi lã lần ra tỉnh đi ở vú
    kiếm miếng thôi. Chứ người khỏe như trâu lăn ấy. Mợ định cho bao
    nhiêu?
    Đủ loại kẻ ăn người ở trong nhà. Con sen, con nhài, con nụ, vú
    em, u già, cậu nhỏ, anh xe, thằng quýt. Cứ nhong nhóng đứng đám
    đấy. Các mụ Tú Bà nháo nhác, táo tác chạy đèn cù tán tỉnh chào
    hàng, nói thách, ngã giá, đòi tiền lót tay. Khách mua người đã đưa
    người đi rồi đến lúc ngắm lại thấy có điều không ưng, quay lại, tìm
    mụ, vẫn con mụ ấy, thế mà mụ phủi áo cãi phứa không biết, không
    biết. Thế là một trận xỉa xói nhau lại um lên.
    Người các làng cả năm cả tháng chẳng ra Kẻ Chợ đều phải
    khiếp cái phố Mới. Sợ dây vào quân nặc nô. Lo thân một ngày kia

    https://thuviensach.vn

    mình chẳng may sa vào đây. Lại còn bọn thầy tướng, bọn bói bài
    tây, bọn chơi cua cá bạc bịp nhan nhản khắp phố, lan sang cả Hàng
    Đào, Hàng Ngang.
    Một mụ béo núc t dưng đi theo dì tôi. Mắt cú vọ nhìn người
    soi mói như lạ lùng lắm. Rồi bỗng bước lên trước mặt. Một tay mụ
    vuốt lên tay áo dì tôi:
    – May quá, trông cô cũng được nước đấy. Có nhà trên phố Tây
    đương cần chị hai. Chị hai, cô khâu đầm, cô vú đầm ấy mà. Làm với
    Tây, tha hồ ăn trắng mặc trơn. Khổ người như cô, mảnh dẻ, nhỏ
    nhắn, Tây người ta ưa. Chị hỏi khí không phải, cô ra Kẻ Chợ có việc
    gì thế?
    Dì tôi lúng túng:
    – Tôi, tôi…
    Mụ kia ngoác loe miệng, lại quệt mép trầu, nói:
    – Ng như cô chắc chẳng phải ra đây làm con nhài, con nụ đi
    ăn đi ở như người ta.
    – Vâng ạ.
    – Trông biết ngay mà. Ra Vạn Bảo cầm đồ, chuộc đồ hả?
    – Vâng ạ.
    – Đấy cô xem, con mắt chị có tinh đời không. Cô em tính k đi
    nhé. Muốn đi khâu đầm. Hay làm chị hai. Một bước lên quan rồi!
    Dì tôi vẫn lúng túng:
    – Em chẳng biết thế nào.
    Mụ ấy buông một câu:
    – Cô em cứ ngẫm cho cẩn thận. Chị chỉ mới cần em đưa chị
    một đồng bạc, đồng thơm đồng thảo lấy may thôi. Mọi s sau này
    hẵng hay.

    https://thuviensach.vn

    Rồi mụ không nói gì n a, ngoảy sang với một đám đứng hè
    cạnh đấy, lại nói nói cười cười với đám bên kia. Như thể người ta
    còn nghĩ. Đúng như quân bài tây lật mặt thoăn thoắt, chẳng biết thế
    nào. Dì cháu tôi càng chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao.
    Nhà cầm đồ Vạn Bảo có cái hẻm lối đi con con chỉ vừa một
    người len vào, thì đến một c a mắt cáo thấy cái lỗ tròn. Dì tôi cầm
    tờ biên lai, kèm với tiền chuộc, tiền lãi đặt trước ô c a. Chỉ thấy một
    bàn tay gầy gụa đen như ám khói thuốc phiện thò ra lặng lẽ vơ cả
    vào. Khác nào các thứ đồ cúng dâng ông Trằn tinh trong chuyện
    Thạch Sanh. Nháy mắt, đã trông thấy cái áo bông của dì tôi được
    gấp nếp cẩn thận, vẫn bàn tay xương xẩu lúc nãy lại thò đưa ra.
    Rồi dì cháu tôi đã ra về đến gi a phố. Vẫn ngổn ngang, túi bụi
    nh ng người trên lòng đường, dưới trời bụi mưa trắng sáng.
    Cái mụ mối lái người lúc nãy lại ở đâu bước tới. Hay mụ vẫn
    đứng rình đợi chỗ nào, ai biết được.
    Mụ nói t nhiên, như vẫn đương dở câu chuyện. Dì tôi bây giờ
    đã bạo dạn hơn, dì tôi đáp:
    – Phúc đức quá, gặp bà có lòng giúp cho em. Mời bà lên chơi
    nhà. Thế nào em cũng xin chu tất.
    Mụ cười bả lả:
    – Đành thế rồi. Nhất định phải lên cho biết nhà biết c a cô em
    chứ. Còn phải một b a túy lúy cơm rượu n a chứ, còn đi lại dài lâu
    nên tình nên nghĩa chứ. Nhưng lạy thánh mớ bái, phải có một mảy
    làm của tin, “của tin gọi một chút này làm ghi”, có của tin mới có lòng
    thành, em ạ.
    – Mời bà lên chơi nhà… Bà cứ nói… cứ hỏi… nhà em ở chỗ
    chợ Bưởi đi vào…

    https://thuviensach.vn

    – Được rồi, trò chuyện bây giờ xong với em, chị còn phải chạy
    đi nói lại với người ta. Tây người ta nói chắc như đinh đóng cột ấy.
    Thế nào chị cũng lên nhà. Nhưng mà phải…
    – … Em g i bà…
    – Bao nhiêu?
    – … bà… một hào…
    – Phỉ phui! Thèm vào! Lót tay cái rơm cái rác thế à?
    Dì tôi nhăn nhó, khẩn khoản:
    – Nói th c với bà. Chuộc cái áo này, em hết tiền rồi. Hôm nào
    bà lên nhà, em xin… nhà em ở chỗ chợ Bưởi vào. Bà cứ hỏi, cứ
    hỏi…
    Đồng hào bạc trắng, dì tôi cầm trong lòng bàn tay. Mụ ấy nhổ
    bẹt một bãi nước bọt xuống đất, để làm hiệu phỉ phui đốt vía rồi
    chép miệng, cất cái giọng chán khê nằng nặc: “Từ sáng đến giờ!
    Thôi cũng mở hàng lấy may…”. Mụ rón đầu ngón, nhặt đồng hào.
    Như thể ghê tay không đáng cầm. Trên tàu điện, dì Năm ngồi cạnh
    tôi, cũng như ban sáng. Nhưng mà sao thấy lạ. Tôi chưa thể hiểu
    được công việc của người lớn. Cảm như có cái gì khác buổi sáng,
    khi hai dì cháu ở nhà ra đi. Tôi cũng biết thế là dì Năm tôi sắp được
    xuống Kẻ Chợ làm chân chị hai, chân khâu đầm cho nhà Tây. Tôi đã
    trông thấy ở phố thanh vắng, cái nhà Tây có hai cánh c a sắt mở, ô
    tô chạy ra chạy vào. Dì Năm sẽ được đi vào cái c a ấy à? Dì Năm
    đi làm việc trong ấy à? Lấy ông bếp, ông bồi, ông tài xế hay lấy ông
    Tây cũng nên. Lấy chồng Tây thì sung sướng, nhưng phải cái bị
    người ta gọi là con me tây. Vùng tôi cũng chưa có ai như thế. Tôi
    không biết tưởng tượng ra hơn bao nhiêu điều “ấy à” lộn xộn nhưng
    ngạc nhiên.

    https://thuviensach.vn

    Đến hôm hẹn, cả nhà tôi cứ lẳng lặng kín đáo mà lại tấp nập
    khác thường. Dì Năm quét sân, nhát chổi moi móc k lưỡng cả trong
    góc vách. Thế mà lát sau, ông tôi lại ra quét lại. Tiếng chổi quẹt quẹt
    lạ lạ, xôn xao thế nào. Nhà có khách, nhà sắp có khách ngoài phố
    về.
    Khách là cái bà mặt béo xám đã cầm của dì Năm một hào bạc.
    Làm sao mà tôi ghét cái con mụ! Nhưng rồi tôi lại mong người ta
    đến, đem dì Năm đi làm khâu đầm, làm chị hai ở nhà Tây. Rồi tôi lại
    thấy cứ ghê ghê rợn rợn, như nhà sắp có ma, n a đêm gà gáy ma
    hiện ra.
    Mãi tận chập tối, dường như cả nhà ai cũng đều nghe, chẳng
    thấy người bước vào ngõ. Đến quãng xâm xẩm thế này thì hết tàu
    điện rồi. Vậy là dì Năm tôi bị lừa mất một hào.
    Năm nay dì Năm đã kém một tuổi đầy tám mươi. Dì tôi và các
    em tôi ở Sơn Tây. Chuyện này, chắc dì đã quên lâu.

    [1]

    Phiên âm của Jean Dupuis tên một nhà buôn người Pháp

    https://thuviensach.vn

    2.
    Bắt rượu
    Năm ấy, tôi về ăn tết quê nội ở Cát Động trong Hà Đông. Chưa
    đến hăm ba Tết ông Công. Đã qua lễ sắp ấn. Cánh đồng Thanh Oai
    phẳng lặng, xám ngắt phất phơ, khói từng cuộn suốt sang tận làng
    Mai. Chẳng biết khói đốt gốc rạ sưởi ấm hay khói hun chuột.
    Tôi theo u tôi về nhà bác Cả tôi ngoài xóm Đồng. Nhà nhà
    quanh co, kề bên ruộng vào xóm. Không phải qua c a đình đằng bờ
    đê sông Đáy, mà người ra vào xóm đi tắt ngoài cổng đồng lên. Có lẽ
    ngày xưa, đây cũng là ruộng, rồi có người ra làm trại ở, mới thành
    xóm, mà tên là xóm Đồng.
    Đứng đây, trông thẳng lên đường cái tây. Vẫn còn nghe vòng
    bánh xe sắt lăn rào rạt trên mặt đường đá và tiếng lá cọ xột xoạt
    theo nhịp chân chạy của người kéo xe tay bánh sắt đội nón mê,
    khoác chiếc áo tơi lá như con cò lẻo khoẻo bị hai cái càng tay tre
    đóng gông ngang ng c.
    Bên kia, nước đồng chiêm trắng bong xuống tận Chuôn Tre,
    đồng Vàng giáp vùng trũng Ứng Hòa, Phú Xuyên… Tiếng còi tàu
    hỏa tận cuối xa nghe như thuốn dài dưới làn nước lạnh tê.
    Tới bờ ao đã nghe táo tác, nheo nhéo trong cổng ngăn tiếng
    trẻ con học bài. Nh ng cậu học trò vừa học quốc ng , vừa học ch
    ta, có cái đầu cạo trọc, đầu mới để sắp ăn tết, đuôi tóc hoa roi dài
    thòng lõng xuống gi a lưng.

    https://thuviensach.vn

    Bác Cả tôi ngồi gi a đám trẻ con lau nhau nhấp nhô. Có đứa
    đương mài son, mài m c trong cái nghiên. Có đứa nằm chổng
    mông, viết phóng. Có đứa ê a… a… oa… i… oai… u… i… c… lét…
    uếch… uých… Cái roi mây của bác Cả dứ lên dứ xuống, lặng lẽ ghê
    rợn. Hai con mắt muốn bật con ngươi của mỗi cậu học trò liếc trộm
    cái roi.
    Gi a lúc ấy, ngoài đầu đồng có tiếng nhốn nháo. Người trong
    xóm nghển mắt lên trên rào bờ duối trông ra. Rồi giật thót mình, ngơ
    ngác. Từ ngoài đường cái gi a đồng, đương lúp cúp chạy vào một
    đám người. Mũ trắng, quần áo vàng lốp. Lính đoan[1] trên tỉnh về.
    Gần đến đầu bờ ao, trông rõ ra người Tây đoan đi đầu, cao lênh
    khênh. Người Tây mặc áo vàng, quần vàng, tay cầm ngang cái
    thuốn sắt dài.
    Đám người trong xóm luống cuống, s ng sờ, không biết làm
    thế nào. Cho đến lúc chẳng biết ai trong bờ rào nào hét to tướng
    lên:
    – Tây đoan về khám rượu!
    Bây giờ dường như mới nhớ ra, sợ quá. Tất cả ù té chạy.
    Trong lúc, Tây và lính đoan đã ập đến nơi.
    Đám học trò quanh bác Cả đương thi nhau học gào từng ch ,
    bỗng im bặt. Nhưng các cậu ấy hãi cái roi của bác tôi, vẫn không
    dám ngóc đầu trông ra.
    Bác Cả đứng phắt dậy. Bác bước lại trước án thư. Bác
    nghiêng chiếc mâm bồng, lấy ra trong chân mâm một cái chai dài
    ngoẵng. Trong chai, đ ng độ hơn cút rượu ngấn lên già lưng chai.
    Bác bỏ chai rượu lậu vào túi trong cái vạt áo năm thân ngay trước
    bụng. Rồi bác lại ngồi xuống chỗ cũ, chùm lên vai tấm chăn khố tải

    https://thuviensach.vn

    xùm xòe. Cầm chiếc roi mây – lại như lúc nãy, gõ đẹt đẹt xuống mặt
    chiếc phản mọt, nói dõng dạc:
    – Đứa nào cứ yên chỗ ấy. Học đi!
    Bọn lính đoan đã vào gi a sân. Người Tây đoan, tây lai, nói sõi
    như ta:
    – Ông đồ ngồi bảo học à?
    – Vâng ạ.
    – Phải chắp tay nói: “Bẩm quan lớn nhà đoan, vâng ạ” mới lễ
    phép chứ!
    – Bẩm quan lớn nhà đoan…
    – Nhà ông đồ có nấu rượu lậu không?
    – Bẩm quan lớn nhà đoan, không ạ.
    – Quan khám thấy có rượu thì ông đồ đi tù mười tám tháng
    nhé. Sắp tết rồi mà phải ra tỉnh ngồi nhà pha, khổ vợ con lắm đấy.
    Bác tôi chẳng biết nói thế nào, chỉ thỉnh thoảng buông một câu
    “vâng ạ” đánh nhịp ngẩn ngơ.
    Người Tây đoan cầm chiếc thuốn sắt chọc lên bàn thờ. Cái
    thuốn nhọn hoắt như ng i được hơi rượu, tinh thế. Nó đẩy nghiêng
    đế cái mâm đồng. Nhưng đế rỗng, chẳng có gì cả.
    Tôi biết thế rồi, tôi vẫn run cầm cập. Có lẽ mặt tôi tái mét. Bởi
    vì chai rượu lậu vừa ở đế mâm bồng bỗng chui vào trong áo bác tôi,
    ngay cạnh đây thôi. Nó ng i thấy hơi rượu thì nguy tai.
    Tây đoan quay lại, hỏi u tôi:
    – Cái nhà chị này đến cất rượu lậu về bán tết à?
    Bác tôi nói:

    https://thuviensach.vn

    – Không, thím nó là người nhà ở ngoài tỉnh về chơi.
    Tây đoan quát:
    – Người nhà cũng khám!
    Rồi Tây đoan nhấc cái tay nải nâu của u tôi lên. Đầu thuốn sắt
    gõ vào. Chỉ nghe tiếng lịch bịch xống áo vải. Tây đoan buông cái tay
    nải xuống. Rồi trỏ ngọn thuốn sắt vào bác Cả:
    – Thầy đồ giả vờ, thầy đồ giấu rượu trong chăn. Chúng mày
    khôn lắm. Ông đã bắt được chúng mày cất rượu trong chăn nhiều
    lần rồi. Muốn sống thì bỏ cái chăn ra.
    Nom bác tôi lúc ấy cứ như con gà mái ấp xòe cánh. Chưa kịp
    nhấc cái chăn trên vai, đầu thuốn của thằng Tây đã quều xuống. Bây
    giờ thì cái thuốn sắp chọc đến chỗ, chỗ chai rượu ở bọng áo bác tôi.
    Tôi cuống queo, nắm quanh váy u tôi. Cái chăn rơi xuống rồi, mà
    bác tôi vẫn ngồi trơ ra đấy. Tôi càng sợ.
    Tây đoan ngắm nghía, rồi lại quát:
    – Thầy đồ đứng dậy!
    Bác Cả tôi từ từ đứng dậy. Hai con mắt toét nhoèn viền vải tây
    của bác tôi vẫn gấp gay nhìn thẳng, chẳng khác lúc nãy. Người Tây
    đoan im một lát rồi lạnh lùng nói:
    – Chỉ làm mất thì giờ các quan!
    Rồi Tây đoan xách cái thuốn bước ra. Nhưng còn như nghi
    ngờ, như tinh nghịch, như quen tay, lại chọc thuốn lên mái một cái
    n a. Tàu lá cọ thủng, trông thấy cái lỗ tròn tròn trên trời.
    Tây, lính và các người xem ra cả rồi, bác Cả lại ngồi xuống.
    Nhưng đám học trò quanh bàn đã biến mất từ lúc nào.

    https://thuviensach.vn

    Bọn lính đoan đi sục thuốn khắp các vườn và bờ rào quanh
    xóm. Xem có chỗ nào chôn giấu rượu, bã rượu. Không thấy gì, cả
    bọn đùng đùng kéo vào xóm trong.
    Đến tận trưa, đám lính nhà đoan khám rượu mới trở ra đường
    cái tây, lôi theo nhiều thứ bắt được ở xóm dưới bãi. Cái nồi đồng ba
    mươi với lưng nồi bã, một thúng gạo nếp đã vo sẵn. Mấy cái bong
    bóng trâu, có cái bẹp rúm, có chiếc đã phồng rượu. Đủ đồ nghề, cái
    cần trúc xe điếu chuyên nước cất, cái mai rùa gỗ, cái chõ… Nhà ai
    lắm đồ nghề nấu rượu thế mà không tẩu tán kịp! Chúng nó bắt được
    tuốt. Đứa nào báo Tây đoan mà để hại người ta thế. Tết nhất đến
    nơi. Bắt được rượu đích xác, chỉ bởi có đứa báo thôi. Định làm mẻ
    rượu bán tết mà hóa ra sạt nghiệp. Lại còn tù tội n a.
    Bọn lính đoan đi trước. Đằng sau, lũ lượt người cung cúc theo.
    Không biết người nhà hay tuần phiên khiêng các thứ nhà đoan vừa
    bắt được.
    Có cả chú bếp Mỡ hớt hải từ trong xóm ra chạy lẫn vào đám
    bắt rượu.
    Nhiều người gọi:
    – Chú bếp!
    Chú bếp Mỡ quay lại, trông thấy tôi, nói to:
    – A thằng cu Bưởi về quê ăn tết à? Chú đi tù rượu đây. Mẹ con
    cháu ở nhà chơi nhé.
    Đi tù rượu! Câu nói cứ ngọt như không. Tôi vẫn nghe kể ngày
    trước chú bếp Mỡ đã đi lính sang Tây. Khi về, chẳng có lon đội, lon
    ách gì, chỉ được người ta gọi chức bếp, bếp Mỡ. Sang tận bên Tây
    về rồi chú lại vẫn đi cày thuê, đào ao, rào vườn cho người ta. Vẫn

    https://thuviensach.vn

    như ngày trước. Nh ng buổi chăn trâu, chú toàn kể các chuyện bên
    Tây. Về quê bao giờ tôi cũng đến nhà chơi nghe chuyện đường xa
    của chú bếp Mỡ.
    Chú ấy nói thế nào? Chú tù rượu. Chú đi tù rượu? Chú vừa rảo
    chân vừa xỏ tay khoác cái khố tải, cười hí hí và nói thế.
    Thím bếp Mỡ với lũ con đứng đầu xóm nhìn theo. Đến lúc cả
    bọn với các người nhà đoan khuất vào gốc nh ng cây muỗm, thím
    bếp Mỡ trở vào, đi gi a đám người đương cười hê hê. Qua các ngõ,
    nghe người ta nói cợt: “Thế là t dưng giời cho nhà bếp Mỡ cái tết
    nhé, sướng nhé”. Chẳng biết thím bếp Mỡ đùa hay thật, thím cứ
    chép miệng lẩm nhẩm: “Sướng, sướng quá!”.
    Thì ra Tây đoan khám rượu, bắt được cái lò nhà ông lý hào [2]
    ngoài bãi ngô dưới bờ sông. Rõ ràng có đứa xấu bụng đi báo ăn
    thưởng. Nồi rượu còn đương đun. Không tẩu tán được mảy may.
    Ông lý hào phải vội nhờ người đi bảo chú bếp Mỡ theo tang
    vật lên tỉnh. Nói một câu thế, chú đã biết lệ. Có gì thì chú bếp cứ
    đứng ra nhận nhà chú nấu rượu rồi chú vào ngồi nhà pha. Qua tết,
    sang giêng còn phải tù hay được về, đợi ra tòa xong rồi cái ấy sẽ
    liệu với nhau sau. Ở nhà, vợ con chú bếp được ông lý hào hẵng đưa
    món tiền chục bạc ăn tết đã.
    Bên làng Mai còn nhiều nhà nấu rượu lậu, có nh ng người đã
    quen đi ở tù thay người bị bắt rượu như thế. Tù mấy ngày mấy
    tháng, đã có giá hẳn hoi. Có người ngồi tù thuê đến mười tám, hai
    mươi tháng. Chủ rượu ở nhà phải nuôi vợ con, lại đóng thuế thân
    cho người tù thay đến hai năm. Thôi thì đằng nào cũng vậy, người
    khôn của khó, ở nhà cũng phải m a mật mới kiếm nổi miếng.

    https://thuviensach.vn

    Cánh đồng vẫn im phắc. Không biết tại rét quá, người ta rúm
    lại hay vì giá buốt đến cóng cá mà tưởng ra như thế. Đám khói gốc
    rạ vẫn nghi ngút đằng xa, càng vắng ngắt vắng ngơ.
    Bỗng một cậu học trò bấy giờ mới thò đầu chui trong gầm phản
    ra. Bác tôi điềm nhiên bảo anh trưởng tràng:
    – Sang giêng, ngoài rằm khai trường nhé. Bảo chúng nó thế.
    Rồi bác Cả rút chai rượu lậu trong bụng áo ra, lại cất vào dưới
    lỗ hổng ở chân mâm bồng, như lúc nãy.

    [1] Đoan (tiếng Pháp: douane), cơ quan thu thế, bắt thuế thời Pháp
    [2] Lý hào: người bỏ tiền ra mua chức lý trưởng

    https://thuviensach.vn

    3.
    Cái xe đạp
    Vào nh ng năm ấy, xe đạp còn hiếm, không lắm như bây giờ.
    Không phải nhà nào cũng có xe đạp và ai cũng có xe đâu. Với nhiều
    người, xe đạp là một thèm muốn cao cao. Mác xe của các hãng
    khác nhau ở Sanh Ê-chiên bên Pháp ai cũng nhớ vanh vách và
    phân biệt mọi đặc điểm ngóc ngách cái phanh, cái lốp, mặc dầu
    không mấy người có xe đạp.
    Chưa bao giờ tôi có xe đạp. Đến năm 1945, tôi rời ra phố, mới
    tậu xe đạp – hồi ấy chưa gọi là mua xe đạp, mà người ta nói trịnh
    trọng: “Tậu xe đạp” như tậu ruộng. Cái xe đạp đầu tiên của tôi trơ
    trụi có khung và bánh gọi là xe cởi truồng.
    Xe đạp, cái xe đạp ước ao. Muốn có, nên lúc nào cũng thèm
    như có thật. Cả làng tôi cũng chỉ một ông đội Lộng có xe đạp. Trên
    đầu chợ, bên vườn Bàng, ông Tây đen ma tà Ca ra ta Sanh đi gác
    thuê cũng có một cái – chẳng biết của sở cho mượn đi, hay của ông.
    Mỗi khi nghe chuông kính coong, kính coong tận ngoài đầu đường,
    người trong xóm đã chạy à ra xem xe đạp qua. Quái thật, bây giờ
    không thấy ai tập xe đạp, rồi đến cả trẻ con, cũng t nhiên biết đạp
    xe nhoay nhoáy. Ngày trước, phải tập xe ngã lên ngã xuống, mướt
    mao mồ hôi mồ kê. Ở dốc đường Thành, hàng bác cả Đức cho thuê
    xe đạp, có nh ng cái xe tã dành riêng cho thuê tập. Gom tiền lại,
    thuê giờ. Thằng gi xe, thằng trèo lên yên. Cũng phải bao phen
    choét đầu gối. Có lẽ vì bây giờ nhiều xe đạp, lúc nào cũng thấy

    https://thuviensach.vn

    người đạp, chỉ trông người ta đạp xe mà rồi trẻ con t nhiên cũng
    biết đi.
    Nhưng có một cái xe đạp thời ấy cũng khá nhiêu khê. Không
    phải chỉ bởi mua xe nhiều tiền. Không phải vì công phu hầu hạ, s a
    sang nó. Mỗi ngày, đi đâu về, lại lau xe, ngày nào cũng lau từ hang
    hốc cái khung, cái bàn đạp, cái nan hoa. Người ta không chểnh
    mảng với xe như bây giờ. Chỉ nh ng tốn kém rắc rối xung quanh cái
    xe đạp cũng đã lôi thôi rồi. Bây giờ tôi vẫn lau xe đạp theo thói quen
    k lưỡng như thế.
    Tôi đương đạp xe qua cầu Đơ thị xã Hà Đông. Có hai người
    đội xếp bỗng đạp theo. Nói cho đúng, tôi đã trông thấy hai người đội
    xếp đứng ở đầu cầu. Nhưng không ngờ họ lại đương chú ý đến tôi.
    Vâng, đi đâu mà chẳng phải nhìn đội xếp, dù là nh ng người
    ngay ngắn, lương thiện. Bởi vì hầu như các ông đội xếp cứ trông
    thấy mặt ai là rình bắt, rình khám, rình phạt. Từng quãng trong thành
    phố, lại thấy một đội xếp Tây đội mũ lưỡi trai, đeo súng lục, đạp xe
    Pơgiô bánh to (lốp 650). Hai đội xếp ta đội mũ cát đít vịt lợp vải vàng
    đi theo hai bên. Hai người này cũng vắt vai cái dây da, bao súng lép
    kẹp, mà ai cũng biết trong nhét giẻ lau xe. Nhưng con mắt chăm
    chẳm, rình rình. Thềm nhà có rác, phạt. Phơi quần áo, tã lót, chiếu
    trước c a, phạt. Cống bẩn, phạt. Đánh nhau, phạt cả đôi bên. Ven
    đường khắp Hà Nội không đâu có nhà đái công cộng. Mà đái đường
    thì phải phạt hẳn sáu hào. Bởi vậy, trẻ con trong làng đi phố mót đái
    cứ vừa đi vừa đái ra quần. Các bác cu li kéo xe thì vừa chạy vừa đái
    vào bẹn. Chả là hình như không có lệ phạt người vừa đi vừa đái.
    Nhưng cũng chẳng có cơn cớ gì cũng rút giấy biên phạt, thu tiền.
    Người ta nói các bóp đã định trước số tiền phạt thu hàng tháng rồi,
    đội xếp cứ trông đấy mà liệu đi phạt cho đủ.

    https://thuviensach.vn

    Đến gi a cầu, một người đội xếp đạp xe vượt lên trên tôi.
    – Này này… Phanh lại.
    Tôi lúng túng tìm cái tay phanh. Tôi bóp phanh bánh trước két
    két…
    – Bánh sau!
    Phúc đức phanh bánh sau ăn ngay. Chiếc xe tôi đứng kh ng
    lại.
    Hai người đội xếp châu đầu vào tôi.
    – Xe không phanh à?
    – Phanh ăn thế mới đứng lại được ạ.
    – Chỉ có phanh bánh sau!
    Tôi nhăn nhó, rụt rè nói khó. Rồi đưa một hào bạc.
    Người đội xếp hầm hầm:
    – Không rỡn với nhà anh đâu. Xe lại mất cả gác đờ bu. Gặp
    người ác thì biên lai phạt rồi đấy, biết chưa. Đồ nhà quê, thôi cút.
    Hú vía, xe tôi đi mượn! Tôi lặng lẽ nghĩ có lẽ hai cái lão đội xếp
    ấy cũng còn có phần nhân đức. Xe không chắn bùn, phanh bánh
    trước không ăn, mà chỉ phải đút có một hào cho hai người chia
    nhau.
    Thời ấy, nuôi được cái xe đạp, nhọc lắm. Xe phải gắn một
    mảnh sắt, mảnh kền khắc tên, số nhà, tên phố của chủ xe. Không
    có, phạt. Đèo nhau, phạt. Trông cái xe mướp quá, ngứa mắt, cũng
    phạt. Ba đồng một tạ gạo Sài Gòn lẫn gạo gãy hàng vừa, giá trị một
    đồng bạc không phải nhỏ. Thế mà thuế xe đạp mỗi năm đóng mất
    một đồng bạc, được lĩnh về một miếng lập lắc bằng đồng vặn vít đeo
    vào xe. Đầu năm, chỉ hết tháng giêng, đội xếp đã đứng đường tóm
    phạt các xe chưa có lập lắc mới.

    https://thuviensach.vn

    Chập tối, xe phải có đèn. Không thì một tay cầm nắm hương
    vung lên. Cái đèn ló phao dầu tây cắm vào cọc đèn trước ghi đông,
    khói mù mịt, khét lẹt.
    Có việc ra phố chập tối, phải sắp sẵn từ chiều cái phao đầy
    dầu. Thế nào mà khi về, qua đường Quan Thánh, gió hồ thổi lên,
    đèn tắt ngóm mất.
    Người đội xếp lù lù hiện ra như ma hồ Trúc Bạch lên.
    – Ê! Xe không đèn, đứng lại!
    – Đèn tôi mới vừa tắt.
    – Không biết, a lê, về bóp!
    [1]
    Tôi dắt xe đi với người đội xếp về sở cẩm
    Hàng Đậu. Xe
    không đèn – hay xe đèn tắt cũng thế, tôi đã biết phải nộp phạt ba
    hào. Không có tiền thì để cái thẻ thuế thân và xe đạp lại, mai đem
    tiền đến. Nếu không, phải cất công vào ngồi nhà giam sở cẩm, chịu
    đói khát hai mươi bốn tiếng, đúng giờ này ngày mai thì được đem xe
    về. Còn tiện nhất thì khấn anh đội xếp một hai hào, chắc được thả
    cho đi ngay.
    Nhưng tôi theo cách “vào ngồi nhà giam”. Chẳng phải vì
    bướng, mà bởi một lẽ dễ hiểu. Xe đạp đi mượn, tôi lại không có tiền,
    mà lúc nào tôi cũng thong thả thừa thì giờ. Thế mà chưa dứt nỗi lo.
    Ngồi nhà giam, nhưng phải làm sao cho trông thấy cái xe đạp cả
    đêm, sợ nó nẫng mất. May cũng có nhiều người đi xe không đèn,
    phải bắt giam, chịu khó ngồi nhà muỗi, để khỏi nộp phạt. Xe chất
    trước c a buồng chồng đống cao hơn đầu người. Nhưng lại nghĩ lo
    xa nỗi tối mai được thả vào giờ này, xe vẫn không đèn. Dẫu không
    dám đi, chỉ dắt về tận nhà, ngộ chẳng may gặp đội xếp, nó lại bảo
    mình đương đi vừa nhảy xuống, cứ phạt, thì rồi không biết ra sao
    đây. Lôi thôi quá!

    https://thuviensach.vn

    Cái buồng giam ở bóp Hàng Đậu khai tịt cả mũi. Suốt đêm,
    người lúc nhúc ngồi bó gối, chen nhau. Muỗi đói đốt, gáy sần lên
    như gai gạo.
    Vậy mà nghe kể hôm nọ cũng có người thắt cổ. Ở cái chỗ đêm
    ngày đông ních như thế này, không hiểu thắt cổ vào lúc nào mà chết
    được.

    [1]

    Cẩm do tiếng Pháp: commissariat.

    https://thuviensach.vn

    4.
    Nh ng nhà hàng xóm
    Bây giờ bốn bên hàng xóm, năm này qua năm khác, dường
    như bao giờ cũng vẫn thế. Người lớn già đi và cứ mỗi năm càng lắm
    trẻ con. Khi nào cũng nghe tiếng trẻ cười nói inh ỏi.
    Ừ, mà khác thật, cái làng đã được đổi thành thị trấn – thành
    phường. Cái xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4 gọn ghẽ. Không còn chỉ
    quanh quẩn bên này bên kia cũng chia ra làng Tân, làng Nghè. Làng
    Nghè lại còn nh ng xóm Trong, xóm Gi a, xóm Trẽ, xóm Ngoài, rắc
    rối đến lắm tên.
    Mấy nhà quanh quanh tôi chẳng có gì khác. Bác đôi Lạc bằng
    tuổi tôi vẫn đi công tác. Bên kia bờ chuôm, ông bà Tám đã nghỉ hưu.
    Thỉnh thoảng lên chơi cậu con trai làm bác sĩ trên Thái Nguyên. Mấy
    nhà bà con Việt kiều ở Thái La...
     
    Gửi ý kiến

    Một cuốn sách hay có thể làm thay đổi suy nghĩ; nhiều cuốn sách hay có thể làm thay đổi cả cuộc đời

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TH NAM VIÊM- PHÚ THỌ !

    HOA