Emile hay là về giáo dục

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 07h:56' 28-01-2026
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 07h:56' 28-01-2026
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
1
DẠY VÀ HỌC LÀM NGUỜI
BÙI VĂN NAM SƠN
[1]
Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận con người”...
J.J. Rousseau (Émile hay là về giáo dục)
Triết gia Immanual Kant (l724-l804) tác giả của câu trả lời nổi tiếng về “Khai
[2]
minh là gì” có kỷ luật sinh hoạt hết sức nghiêm ngặt: Đúng bốn giờ chiều mỗi
ngày, ông ra khỏi nhà, đi dạo, luôn luôn một mình, trên cùng một con đường. Giai
thoại thường kế: dân Kònigberg chờ ông ra khỏi nhà để lên dây cót hoặc chỉnh
đồng hồ! Và tương truyền chỉ có hai ran Kant trễ “thời khóa biểu trong suốt mấy
mươi năm: Nhận được tác phẩm Émile hay là về giáo dục của J. J. Rousseau và
nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ. Hai sự kiện cách nhau ngót 30 năm
(l762/1789) nhưng với Kant, có lẽ quyền sách này cũng quan trọng không kém
cuộc cách mạng kia, nếu không muốn nói, cái sau chính là kết quả của cái trước.
Ta nhớ đến lời ca tụng của một trong các lãnh tụ khét tiếng của Cách mạng Pháp,
Robespierre: “Trong số những nhà tư tưởng thì chỉ có Rousseau mới thật xứng
đáng với danh hiệu là người Thầy của nhân loại” (diễn văn ngày 7.5.1794) Kant,
suốt đời sống độc thân (tức không có nhu cầu giáo dục con cái!), cũng đã trở
thành một nhà đại giáo dục tiêu biểu cho thời cận đại là nhờ chịu ảnh hướng sâu
đậm của J. J. Rousseau khi Kant nói: “Con người là tạo vật duy nhất cần phải
[3]
được giáo dục”
hay “Con người chỉ có thể trở thành người là nhờ giáo dục.
[4]
Con người là những gì được giáo dục tạo nên” . Vấn đề chỉ còn là: Nền giáo
dục ấy phải như thế nào?
Đối với nước ta, J. J. Rousseau cũng không phải là một tên tuổi xa lạ. Trong
một vế của đôi câu liễn trên bia mộ của cụ Phan Châu Trinh do nhân dân Sài Gòn
phụng lập năm 1926 ta đã đọc thấy tám chữ. “Trung học Mạnh Kha, Tây học Lư
Thoa”... ngụ ý ca ngợi Cụ thâu gồm tinh hoa của cả hai nền văn hóa Đông Tây:
Mạnh Kha là tên thật của Mạnh Tử, còn Lư Thoa chính là J. J. Rousseau theo cách
phiên âm quen thuộc vào những thập niên đâu thế kỷ XX Phần “tinh hoa” ấy chủ
yếu là tinh thần “dân vi quý” nơi Mạnh Tử và chủ trương “dân chủ”, “bình đẳng”
trong tác phẩm Khế ước xã hội (Du contratsocial, 1762) của J. J. Rousseau. Là
người tiếp thu sớm nhất các tư tưởng ấy, cụ Phan xứng đáng được tôn vinh là nhà
cách mạng dân chủ tiên phong đầu tiên (“dân chủ tiên thanh”) của nước ta. Phần
tinh túy khác của Rousseau còn ít được giới thiệu, đó là học thuyết và triết lý của
ông về giáo dục được trình bày trong Émile hay là về giáo dục, công bố cùng năm
với quyển Khế ước xã hội (l762), nhưng lại được ông xem là “quyển hay nhất và
2
[5]
quan trọng nhất trong mọi trước tác của tôi” . Quyển sách “hay nhất” là điều dễ
nhận thấy khi ta sắp được thưởng thức văn tài kiệt xuất, nổi tiếng là cuồn cuộn
như nước chảy mây trôi của Rousseau qua bản dịch công phu và tài hoa, thật xứng
đáng với nguyên tác của hai dịch giả Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương mà hôm
nay tôi vinh hạnh được viết đôi lời giới thiệu. Nó cũng là “quan trọng nhất” vì đây
là một công trình triết luận đồ sộ về bản tính của con người: Ông đặt nhiều
câu hỏi triết học và chính trị về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nhất là câu
hỏi: Làm sao cá nhân có thể bảo tồn cái “thiện chân” (theo quan niệm của
Rousseau về “tính bản thiện tự nhiên” của con người) khi dấn mình vào cuộc sống
xô bồ và “đồi bại” không tránh khỏi của xã hội. Trong Émile hay là về giáo dục,
thông qua câu chuyện giả tưởng về cậu bé Émile được người thầy giáo dục từ lúc
mới chào đời cho đến khi lập gia đình và trở thành “người công dân lý tưởng”
thông qua năm giai đoạn đào tạo, Rouseau phác họa một triết lý và phương pháp
giáo dục giúp cho “con người tự nhiên” (được ông phác họa trong Khế ước xã hội
có đủ sức khỏe thể chất và nghị lực tinh thần để đương đầu với những thử thách
trong cuộc đời. Sau Cộng hòa, quyển VIII của Platon, đây là công trình hoàn
chỉnh đầu tiên về triết lý giáo dục ở phương Tây, đồng thời cũng là loại hình
Bildunysroman (tiểu thuyết giáo dục) đầu tiên, sớm hơn quyển Wilhelm Meister
nổi tiếng của J. W. Goethe hơn ba mươi năm. Khó có thể nói hết về tầm ảnh
hưởng rộng rãi và sâu đậm của Rousseau đối với hậu thế. Trong khi học thuyết
chính trị của ông, đặc biệt khái niệm “ý chí phổ biến” (volonté générale) gây
nhiều nghi ngại về xu hướng “toàn tri” và chuyên chế (phải chăng đó cũng là ẩn ý
trong lời ca tụng của Robespierre), thì các bộ phận khác vẫn còn đây sức hấp dẫn.
Nếu cách tiếp cận mang tính chủ thể-cảm xúc (trong tiểu thuyết La Nouvelle
Héloise và trong Confessions) của ông đã không chỉ ảnh hưởng đến trào lưu văn
hóa lãng mạn Pháp mà cả đến các văn hào Đức như J. G. Von Herder, J. W.
Goethe, F. Von Schiller; việc nhấn mạnh đến tự do của ý chí và bác bỏ quan niệm
cố hữu ở phương Tây về “tội tố tông” đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phân tâm học
và triết học hiện sinh ở thế kỷ XX thì học thuyết của Rousseau về giáo dục còn có
sức tác động mạnh mẽ hơn nữa. Nó đã góp phần hình thành các phương pháp sư
phạm khoan dung, xem trọng tâm lý lứa tuổi của nền giáo dục hiện đại (“thuyết
phát triển”, “thuyết tiến hóa tự nhiên”...) với tên tuổi của nhiều nhà cải cách giáo
dục lừng danh như Friedrich Frôbel, J. Heinrich Pestalozzi, John Dewey, Mang
Montessori v..v... Đến với Rousseau là đến với trung tâm của bước ngoặt thời đại
giữa “trật tự cũ và “trật tự mới”. Do đó, ông không chỉ là nhà lý luận xã hội mà
còn là nhà lý luận giáo dục; và việc ông là cả hai, đồng thời có ảnh hưởng sâu đậm
ngang nhau trên hai lĩnh vực cho thấy mối liên kết nội tại chặt chẽ giữa những
biến chuyển xã hội ở thế kỷ XVIII ở Châu Âu và việc ra đời nền tân-giáo dục.
3
Bước ngoặt trong tư duy giáo dục được thể hiện dày đặc trong từng trang sách
khiến người đọc dường như luôn cảm thấy muốn dừng lại, dùng bút để gạch dưới
hay tô đậm hàng loạt những câu đặc sắc. Vượt qua khoảng cách 250 năm, tưởng
như Rousseau là người sống cùng thời với chúng ta, đang chia sẻ những nỗi lo âu
và bất bình của những người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một nền giáo
dục đang phạm nhiều sai lầm từ cơ sở triết lý, cách thiết kế cho đến phương pháp
sư phạm với một hậu quả đáng sợ cho phụ huynh lẫn con cái. Ta hãy thử nghe ông
nói: “Chúng ta xót thương cho số phận của tuổi thơ, thế mà chính số phận chúng
ta mới cần xót thương. Những nỗi đau lớn nhất của chúng ta do chúng ta mà ra”.
Vì đâu nên nỗi? Vì “người ta không hề hiểu biết tuổi thơ: dựa trên những ý tưởng
sai lầm của ta về tuổi thơ thì càng đi càng lạc lối (...) Họ luôn tìm kiếm người lớn
trong đứa trẻ mà không nghĩ về hiện trạng của đứa trẻ trước khi nó là người lớn”.
Nói cách khác, đó là nền giáo dục không hề “nhìn rõ chủ thể mà trên đó ta cần
thao tác. Vậy xin các vị hãy bắt đầu bằng việc nghiên cứu kỹ hơn các học trò của
mình”. Và cũng vì không hiểu rõ “chủ thế” của giáo dục là người học nên người
lớn tha hồ sử dụng phương pháp áp đặt: “thay vì giúp ta tìm ra các chứng minh,
người ta đọc cho ta viết các chứng minh ấy; thay vì dạy ta lập luận, ông thầy lập
luận hộ ta và chỉ rèn luyện trí nhớ của ta thôi”. Trong khi đó, đúng ra “vấn đề
không phải là dạy các môn khoa học, mà là đem lại cho người học hứng thú để
yêu khoa học và đem lại phương pháp để học những môn đó, khi hứng thú này
phát triển hơn lên. Chắc chắn đó là một nguyên lý cơ bản của bất kỳ nền giáo dục
tốt nào.
Thiếu các nguyên lý giáo dục đúng đắn dẫn đạo, ta chỉ tạo ra những con người
“được gia công.”, vừa được nuông chiều quá đáng trong vòng tay cha mẹ, vừa bị
kiềm tỏa đủ kiểu dưới mái nhà trường: “Những ý tưởng đầu tiên của trẻ là những
ý tưởng về quyền lực và khuất phục. Nó hạ lệnh trước khi biết nói, nó vâng theo
trước khi có thể hành động, và đôi khi người ta trừng phạt nó trước khi nó có thể
biết lỗi, hoặc nói đúng hơn là có thể phạm lỗi. Như vậy là người ta sớm rót vào
trái tim non nớt của nó những đam mê mà sau đó người ta quy tội cho tự nhiên, và
sau khi đã nhọc công làm nó thành tai ác, người ta lại phàn nàn vì thấy nó tai ác!”.
Sản phẩm tất yếu của một nền giáo dục áp đặt như thế thật đáng sợ:...” vừa là nô
lệ vừa là bạo chúa, đầy kiến thức và thiếu lương tri, yếu đuối bạc nhược về thể
chất cũng như tâm hồn, và bị quẳng vào xã hội Với Émile hay là về giáo dục,
Rousseau muốn thử phác họa một quan niệm khác về giáo dục. Quan niệm ấy vừa
mới mẻ, tiến bộ, vừa có không ít những mâu thuẫn, nghịch lý như bản thân cuộc
đời và toàn bộ học thuyết của ông. Nó “khiêu khích” và buộc ta phải suy nghĩ hơn
là quá “trơn tru” để ta dễ dàng nhắm mắt nghe theo!
1. Rousseau, nhà khai minh về khai minh
Rousseau sinh năm 1712 ở Genève, có một tuổi thơ u buồn và vất vả. Mẹ ông
mất khi vừa sinh ra ông. Chưa đến 10 tuổi, cha ông-một thợ làm đồng hồ tính tình
4
thô bạo-phải trốn khỏi Genève sau một vụ xô xát, bỏ ông lại cho người chú nuôi.
Ông phải sớm vất vả kiếm sống bằng đủ thứ nghề tay chân. Với tuổi 16, ông một
mình lang thang đến Turin, bắt đầu một cuộc đời đầy sóng gió cho đến khi nhắm
mắt: Làm thuê, hát dạo, làm người tình bất đắc dĩ của một mệnh phụ lớn tuổi, làm
gia sư... Ông phát minh một ký âm pháp mới mẻ cho âm nhạc, làm thư ký cho
phái viên Pháp Ở Venise, được giải thưởng danh giá của Viện Hàm Lâm tên tuổi ở
Dijon, được Diderot mời viết mục âm nhạc cho Bộ Bách khoa từ điển nổi tiếng,
nhưng suốt đời sống bằng nghề chép nhạc. Ông lừng danh khắp Âu châu đồng
thời luôn bị truy nã về chính trị. Ông có năm con, nhưng lại gửi hết vào trại mồ
côi! Ông sống cuộc đời lưu vong lang bạt ở Ý, Thụy Sĩ, Pháp và Anh. Ông mất cô
đơn năm 1778 trong trắng trại của một Mạnh Thường quân người Pháp. Di hài của
ông cũng không yên: Năm 1794 cao điểm của Cách mạng Pháp, được đưa vào
điện Panthéon đầy vinh quang, rồi 20 năm sau, 1814 lại bị trục xuất và tiêu hủy
(cùng với di hài của Voltaire) sau khi triều đình Bourbons được khôi phục!
Có thể nói học thuyết của Rousseau bắt nguồn từ những trải nghiệm đầy cay
đắng và dằn vặt của bản thân ông trong bối cảnh xã hội đương thời. Bằng vài nét
phác hoạ, ta thử dõi theo cuộc hành trình tư tưởng của Rousseau dẫn đến tác phẩm
Émile hay là về giáo dục:
Bài Luận văn thứ nhất (1750)
Các “philosophes” của thế kỷ ánh sáng hoan nghênh sự tiến bộ của kỹ thuật và
sự bành trướng của thương mãi và công nghiệp khắp Âu châu. Họ nhấn mạnh
rằng con người cần sử dụng lý tính để vừa hiểu biết thế giới, vừa hiện đại hóa
chính quyền và luật pháp. Họ chống lại một hình thức áp bức và kiểm duyệt, tin
tưởng vào sự tự do của tư tưởng và công luận. Phần lớn những tư tưởng mới của
các “philosophes” đều bắt nguồn từ các nhà tư tưởng tiên phong của nước Anh
như Francis Bacon (l561-l626) và John Locke (l632-l704). Nhưng các
“philosophes” Pháp dũng cảm và quyết liệt hơn các đồng nghiệp người Anh. Giáo
hội ở Pháp cũng hùng mạnh hơn, còn nhà nước bảo hoàng thì chuyên chế hơn, vì
thế, sự phê phán đối với hai định chế ấy đòi họ phải trả giá đắt. Rốt cuộc, Diderot,
thủ lĩnh của phong trào khai minh Pháp bị tống giam vào ngục tối. Rousseau
thường đi bộ từ Paris đến Vincennes để thăm Diderot, qua đó có dịp làm quen với
các trí thức khác như Friedrich Grimon và Baron di Holbach. Từ năm 1746,
Rousseau đã trở thành một khuôn mặt quan trọng trong đời sống trí thức ở Paris.
Trong một chuyến thăm Diderot trong ngục thất, Rousseau đã đột nhiên có một sự
“thức nhận” mới mẻ, biến chàng nhạc sĩ trung niên lang thang thành một triết gia
nổi tiếng thế giới. Đó là vào năm 1749 trên đường đến Vincennes, Rousseau đọc
báo thấy tin Viện Hàn lâm ở Dijon treo giải cho cuộc thi viết về để tài: “Phải
chăng sự tiến bộ của các ngành khoa học và nghệ thuật đã góp phần lành mạnh
hóa phong tục?”. Ông kể lại: “Đúng giây phút tôi đọc tin ấy, tôi đã thấy một thế
giới khác và tôi đã trở thành một con người khác. Đột nhiên lòng tôi ánh lên hàng
5
nghìn tia chớp... Tôi xúc động quá đến nỗi phải ngồi nghỉ dưới gốc cây suốt nửa
tiếng đồng hồ, và khi đứng lên, cả vạt áo tôi đã ướt đầm nước mắt!”. Diderot, vốn
thích tranh biện, gặp Rousseau trong tình trạng bị kích động cao độ như thế, đã
khuyên Rousseau nên tham gia cuộc thi. Và, như đã biết, bài Luận văn về khoa
học và nghệ thuật của ông đã gây chấn động dư luận vì ông đã trả lời “không” cho
câu hỏi ấy!
Câu trả lời đã đi vào lịch sử của một trong những nhà khai minh hàng đầu của
thế kỷ khiến mọi người sửng sốt. Ông đã hoài nghi triệt để niềm tin cơ bản của
phong trào khai minh rằng lý tính là nguồn gốc không chỉ của cái Chân mà cả của
cái Thiện. Tuy nhiên, Rousseau đã làm như thế bằng chính phương tiện và công
cụ của sự khai minh, nghĩa là, điều ông làm chính là sự khai minh về khai minh,
tức, một sự khai minh có sự phản tư tự-phê phán. Luận điểm trung tâm: Rousseau
phê phán mạnh mẽ các hình thức xã hội nhân tạo và giả tạo do lý tính con người
lập ra vì chính chúng đã làm tha hóa bản tính sâu xa nhất của con người.
-Tất nhiên, sự phê phán-xã hội của ông trước hết nhắm đến xã hội đương thời
của nền chuyên chế quý tộc với cuộc sống và lề thói “cung đình”: “Lề thói cung
đình buộc người ta phải tuân theo quy ước chứ không theo bản tính của chính
mình. Người ta không còn dám tự thể hiện là chính mình, và, dưới sự cưỡng chế
thường xuyên, con người của “xã hội” này là một bầy đàn làm giống hệt nhau
[6]
trong những hoàn cảnh giống hệt nhau”.
-Thứ hai, Rousseau nhấn mạnh rằng việc đơn thuần sử dụng lý tính không đủ
để đảm bảo một cuộc sống đức hạnh, tương ứng với bản tính con người, vì bản
tính con người tuy được quy định bởi lý tính nhưng cũng còn bởi bản tính tự nhiên
(nature) nữa. Ông chống lại xã hội đương thời, vì nó dựa vào lý tính để đè nén bản
tính tự nhiên của con người. Nhưng, ông chống lại cũng bằng cách dựa vào lý tính
để giải phóng bản tính con người ra khỏi những xiềng xích ấy.
Bài Luận văn thứ hai (1754)
Năm 1754, viện Hàn lâm Dijon lại thông báo một cuộc thi viết khác, với đề
tài: Đâu là nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa con người và phải chăng nó
được biện minh bằng pháp quyền tự nhiên? Ngụ ý của đề tài: Những sự bất bình
đẳng xã hội (tầng lớp, giai cấp...) không gì khác hơn là Sự thể hiện ra bên ngoài
của những sự bất bình đẳng tự nhiên (như chiều cao và sức mạnh). Đó là một ấn ý
khiến Rousseau phẫn nộ. Ông thuật lại: “Suốt ngày tôi lang thang trong rừng, hét
to cho mình nghe: “Hỡi bọn người điên khùng không ngừng trách móc tự nhiên,
hãy biết rằng mọi tội lỗi của các người đều do chính bản thân các người gây ra!”
Bài Luận văn thứ hai cho thấy Rousseau là một triết gia đích thực chứ không
chỉ là một “thí sinh viết luận văn”. Bài viết phức tạp, khó đọc vì đề cập nhiều đến
các triết gia chính trị khác như Grotius, Locke và Hobbes chung quanh vấn đề
“bản tính con người”. Ta biết rằng một giả thuyết về “bản tính con người” thường
6
là một bộ phận không thể thiếu của bất kỳ học thuyết chính trị nào. Xã hội gồm
những con người, vì thế thật dễ hiểu khi người ta bắt đầu với việc tìm hiểu cái
“vật liệu tạo nên xã hội. Nhưng, ngay các triết gia Hy Lạp cổ đại như Protagoras
(490-420 trước CN) đã sớm nhận ra rằng các xã hội loài người quá phức tạp và dị
biệt, nên dường như không có một “bản tính người” bền vững hay cố định.
Aristoteles thì cho rằng con người “về bản chất” là sinh vật xã hội, vì thế chỉ hoàn
hảo và hạnh phúc khi trở thành những người công dân tốt. Các “triết gia hiện đại”
như Machiavelh (l469-l527) và Hobbes (l588-l679) không đồng ý. Machiavelli:
Con người là ích kỷ và luôn hành xử xấu xa trừ khi bị Pháp luật và các định chế
chính trị hùng mạnh cường chế. Hobbes: Con người sở dĩ chịu phục tùng quyền
uy tuyệt đối của chính quyền chỉ là vì cần sự bảo vệ trước sự uy hiếp thưởng trực
giữa những con người với nhau. Rousseau có cái nhìn khác so với các học thuyết
“duy bản chất” ấy. Với ông, “bản tính tự nhiên” của con người quá độc đáo, đơn
nhất nên không thể nói về “bản tính người” nói chung. Con người có một lịch sử.
Họ đã biến đổi từ một trạng thái này (như là những động vật linh trưởng cô độc,
đơn giản và “hồn nhiên vô tội”) đến một trạng thái khác (những con người-xã hội
phức tạp, được văn minh hóa như chúng ta ngày nay). Các xã hội đã tạo ra con
người không khác gì chính con người đã tạo ra các xã hội khác nhau. Vậy, con
người lẫn xã hội đều luôn tiến hóa thành cái gì khác với trước, và những biến đổi
xã hội nào đến muộn hơn, thì càng có ảnh hưởng mạnh hơn. Nói cách khác, con
người, theo Rousseau, là hết sức “mềm dẻo”, đều bị “uốn nắn”, nên chỉ có thể có
“những bản tính con người khác nhau mà thôi (quan niệm về tính mềm dẻo của
bản tính con người và về mối quan hệ của nó với thế giới xã hội và văn hóa của
Rousseau đã có ảnh hưởng lớn đến Hegel và Marx). Ở đây, ta nên dành một trang
để điểm lại ngắn gọn một số luận điềm chủ yếu của ông:
-Trạng thái tự nhiên: Nếu mọi xã hội đều khác nhau, thì có nghĩa rằng chúng
đều giả tạo và không có gì là “tự nhiên” cả. Cũng có nghĩa rằng con người “tự
nhiên” hay tiền-xã hội đã từng tồn tại trong một “trạng thái tự nhiên” rất xa xưa
trước khi xã hội và chính trị được thành lập. Ý tưởng về một “trạng thái tự nhiên”
thường được các triết gia chính trị dùng để mô tả thế giới tiền-xã hội. Với Hobbes,
“trạng thái tự nhiên” luôn là một trạng thái chiến tranh với sự hăm dọa thường
trực. Locke thì lạc quan hơn: Trạng thái tự nhiên bao gồm những con người có tư
hữu chỉ có điều những quyền tư hữu hay những nghĩa vụ dân sự chưa được xác
định rõ ràng. “Trạng thái tự nhiên” của Rousseau thì phức tạp hơn, mang nặng
màu sắc nhân loại học và chỉ có ý nghĩa lý thuyết và giả tưởng.
-Pháp quyền tự nhiên: Đề tài của Viện Hàn lâm nhắc đến “pháp quyền tự
nhiên”. Vậy, nó là gì Grotius và Pufendorf cho rằng có những “quy luật hay pháp
quyền tự nhiên” phổ biến luôn luôn đúng và có hiệu lực độc lập với những quy
điều pháp luật của xã hội. Chúng được rút ra từ bản tính tự nhiên của con người.
Rousseau khéo léo tránh nói về “pháp quyền tự nhiên” vì ông không tin vào một
7
“bản tính tự nhiên” bất biến, cố định của con người. Trước hết, thế nào là “bản
tính tự nhiên”? Với Aristoteles, đó là cái gì thuộc bản chất của sự vật chứ không
phải giả tạo hay tùy thuộc (chẳng hạn, nơi con người, thở, đi... là “tự nhiên”, khác
với việc có chiếc mũi thật đẹp hay đôi chân thật dài). Rousseau hiểu khác: “tự
nhiên” là không bị ô nhiễm bởi xã hội giả tạo!
-Con người tự nhiên: Theo Rousseau, bản tính tự nhiên nguyên thủy của con
người là “tốt”, nhưng bị xã hội giả tạo làm cho đồi bại đi. Có nghĩa: Bên trong
mỗi con người hiện đại đều lưu lại dấu vết của một bản ngã thiện hảo hơn của thời
xa xưa. Nhưng, ta lại không thể nào mô tả chính xác “con người tự nhiên” nguyên
thủy ấy, vì, giống như bức tượng được vớt lên từ đáy biến, bị xói mòn và bám đầy
rong rêu, ta không thể thấy rõ được “bản lai diện mục” của “con người tự nhiên”
hiểu như sự thật lịch sử mà chỉ như là giả thuyết cho việc nghiên cứu triết học:
“không thể biết rõ về một trạng thái không còn tồn tại hay có thể đã và sẽ không
bao giờ tồn tại” mà chỉ có thể phỏng đoán dựa vào một số dấu vết hiển nhiên,
chẳng hạn nơi các bộ lạc nguyên thủy còn sót lại hay nơi cách hành xử của các
loài linh trưởng cấp cao. Trái với cái nhìn bi quan của Hobbes, họ có thể đã là
những con người sống cô độc và giản dị, yêu hòa bình, không gia đình hay của
cải, và nhất là không có ý niệm gì về tài sản, sự công bằng, sự chăm chỉ hay chiến
tranh. Nói cách khác, họ là những con người tiền-luân lý, và hạnh phúc hơn chúng
ta ngày nay. Cũng trái với quan niệm lạc quan của Grotius rằng họ vẫn có óc hợp
quần và hợp lý, Rousseau cho rằng họ không có ngôn ngữ và chỉ có những ý
tưởng đơn giản dựa trên những cảm giác trực tiếp. Họ là “tốt” và “hồn nhiên” theo
nghĩa thụ động là không làm điều gì nguy hại. Họ chưa có cách hành xử văn minh
với tư duy logic hay sự hợp tác. Do đó, không thể rút ra những “pháp quyền tự
nhiên” từ “bản tính tự nhiên” của họ được.
-Con người hiện đại và xã hột hiện đại: Khí hậu thay đổi, dân số gia tăng đã
tập hợp họ lại thành những bộ lạc, dần định cư, bắt đầu lưu ý đến nhau và sự so
sánh đã dẫn đến lòng ghen tị, sự bất bình đẳng, sự kiêu ngạo hay quy lụy. Vậy
định chế tài sản hay sự bất bình đẳng xã hội không phải là những gì “tự nhiên”,
“không thể tránh được” mà bắt nguồn từ những sự lựa chọn trong quá khứ được
hợp thức hóa bằng những “khế ước” xã hội và chính trị. Khác với Locke, “con
người tự nhiên” của Rousseau thoạt đầu không biết gì về tài sản hay “luật pháp”.
Chính một thiểu số khôn ngoan, ranh mãnh đã dụ dỗ số đông tham gia vào một
“Khế ước xã hội” để bảo đảm sự an ninh và sự thống trị của pháp luật. Nhờ đó,
người giàu chiếm hữu và làm cho mọi người khác nghèo đi. Quan hệ xã hội trở
thành quan hệ chủ nô.
-Chọn con đường khác: Rousseau đồng ý với việc dùng “khế ước xã hội” để lý
giải nguồn gốc của xã hội và chính quyền, nhưng ông cho rằng “khế ước” như thế
luôn sai lầm và nay không còn hiệu lực ràng buộc nữa. Khác với con vật con
người có năng lực tự giác và vì thế, là tự do, nên nếu đã có thể biến “trạng thái tự
8
nhiên” thành “trạng thái đồi bại” thì từ nay cũng có thể thay đổi vận mệnh của
chính mình. Mọi việc phải và có thể được thay đổi!
Lần này, Rousseau không chỉ không được nhận giải mà còn chuốc lấy sự giận
dữ và thù địch của hầu hết các “philosophes “ vốn từng sát cánh bên nhau.
Voltaire viết cho Rousseau: “Thưa ông, tôi đã nhận được quyển sách mới của ông
chống lại loài người và xin “méc xì” ông... Chưa bao giờ nhiều sự thông minh đến
như thế đã được dùng để làm cho con người trở nên ngu xuẩn. Khi đọc nó, người
ta chỉ còn muốn bò bằng bốn chân mà thôi!”. Tình bạn đã bị đổ vỡ, nhưng tượng
đài sừng sững của một cách suy nghĩ “khác” đã ra đời: Rousseau lánh xa Paris, rút
vào an cư và tiếp tục viết...
Năm 1762, Rousseau công bố tác phẩm chính trị quan trọng nhất của mình:
Về khế ước xã hội (Du contratsocial). Câu đầu tiên: “Con người sinh ra tự do, và
đâu đâu cũng bị ở trong xiềng xích”.
Nhưng, nếu đã thế, nếu sự mất tự do không phải do tự nhiên (hay Thượng đế)
tạo ra thì nó là sản phẩm của chính con người do đã xa rời và tự tha hóa khỏi trạng
thái nguyên thủy. Và vậy thì, cũng chính con người (chứ không phải chờ đến kiếp
sau) phải tự giải phóng chính mình (chứ không thể ngồi chờ Thượng để giải thoát
cho)! Không sức mạnh nào khác hơn sức mạnh của chính lý tính có thể hàn gắn
lại những gì đã đổ vỡ. Thế nhưng, để làm điều đó, lý tính cần có một thước đo,
một chuẩn mực mà nó luôn có thể quy chiếu chứ không thể tùy tiện đặt ra: “ bản
tính tự nhiên” của con người. Với Rousseau, đó là sự tự do nguyên thủy, không
phải đạt được bằng lý tính tính toán mà bằng sự thoát ly khỏi sự ô nhiễm của xã
hội; và đó là sự tự do của CON NGƯỜI, tức của bất kỳ một con người nào chứ
không chỉ của những thành viên nhất định của một tầng lớp nhất định được ưu đãi
vì nguồn gốc xuất thân.
2. Bản tính tự nhiên và giáo dục
Tác phẩm Émile hay là về g
DẠY VÀ HỌC LÀM NGUỜI
BÙI VĂN NAM SƠN
[1]
Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận con người”...
J.J. Rousseau (Émile hay là về giáo dục)
Triết gia Immanual Kant (l724-l804) tác giả của câu trả lời nổi tiếng về “Khai
[2]
minh là gì” có kỷ luật sinh hoạt hết sức nghiêm ngặt: Đúng bốn giờ chiều mỗi
ngày, ông ra khỏi nhà, đi dạo, luôn luôn một mình, trên cùng một con đường. Giai
thoại thường kế: dân Kònigberg chờ ông ra khỏi nhà để lên dây cót hoặc chỉnh
đồng hồ! Và tương truyền chỉ có hai ran Kant trễ “thời khóa biểu trong suốt mấy
mươi năm: Nhận được tác phẩm Émile hay là về giáo dục của J. J. Rousseau và
nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ. Hai sự kiện cách nhau ngót 30 năm
(l762/1789) nhưng với Kant, có lẽ quyền sách này cũng quan trọng không kém
cuộc cách mạng kia, nếu không muốn nói, cái sau chính là kết quả của cái trước.
Ta nhớ đến lời ca tụng của một trong các lãnh tụ khét tiếng của Cách mạng Pháp,
Robespierre: “Trong số những nhà tư tưởng thì chỉ có Rousseau mới thật xứng
đáng với danh hiệu là người Thầy của nhân loại” (diễn văn ngày 7.5.1794) Kant,
suốt đời sống độc thân (tức không có nhu cầu giáo dục con cái!), cũng đã trở
thành một nhà đại giáo dục tiêu biểu cho thời cận đại là nhờ chịu ảnh hướng sâu
đậm của J. J. Rousseau khi Kant nói: “Con người là tạo vật duy nhất cần phải
[3]
được giáo dục”
hay “Con người chỉ có thể trở thành người là nhờ giáo dục.
[4]
Con người là những gì được giáo dục tạo nên” . Vấn đề chỉ còn là: Nền giáo
dục ấy phải như thế nào?
Đối với nước ta, J. J. Rousseau cũng không phải là một tên tuổi xa lạ. Trong
một vế của đôi câu liễn trên bia mộ của cụ Phan Châu Trinh do nhân dân Sài Gòn
phụng lập năm 1926 ta đã đọc thấy tám chữ. “Trung học Mạnh Kha, Tây học Lư
Thoa”... ngụ ý ca ngợi Cụ thâu gồm tinh hoa của cả hai nền văn hóa Đông Tây:
Mạnh Kha là tên thật của Mạnh Tử, còn Lư Thoa chính là J. J. Rousseau theo cách
phiên âm quen thuộc vào những thập niên đâu thế kỷ XX Phần “tinh hoa” ấy chủ
yếu là tinh thần “dân vi quý” nơi Mạnh Tử và chủ trương “dân chủ”, “bình đẳng”
trong tác phẩm Khế ước xã hội (Du contratsocial, 1762) của J. J. Rousseau. Là
người tiếp thu sớm nhất các tư tưởng ấy, cụ Phan xứng đáng được tôn vinh là nhà
cách mạng dân chủ tiên phong đầu tiên (“dân chủ tiên thanh”) của nước ta. Phần
tinh túy khác của Rousseau còn ít được giới thiệu, đó là học thuyết và triết lý của
ông về giáo dục được trình bày trong Émile hay là về giáo dục, công bố cùng năm
với quyển Khế ước xã hội (l762), nhưng lại được ông xem là “quyển hay nhất và
2
[5]
quan trọng nhất trong mọi trước tác của tôi” . Quyển sách “hay nhất” là điều dễ
nhận thấy khi ta sắp được thưởng thức văn tài kiệt xuất, nổi tiếng là cuồn cuộn
như nước chảy mây trôi của Rousseau qua bản dịch công phu và tài hoa, thật xứng
đáng với nguyên tác của hai dịch giả Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương mà hôm
nay tôi vinh hạnh được viết đôi lời giới thiệu. Nó cũng là “quan trọng nhất” vì đây
là một công trình triết luận đồ sộ về bản tính của con người: Ông đặt nhiều
câu hỏi triết học và chính trị về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nhất là câu
hỏi: Làm sao cá nhân có thể bảo tồn cái “thiện chân” (theo quan niệm của
Rousseau về “tính bản thiện tự nhiên” của con người) khi dấn mình vào cuộc sống
xô bồ và “đồi bại” không tránh khỏi của xã hội. Trong Émile hay là về giáo dục,
thông qua câu chuyện giả tưởng về cậu bé Émile được người thầy giáo dục từ lúc
mới chào đời cho đến khi lập gia đình và trở thành “người công dân lý tưởng”
thông qua năm giai đoạn đào tạo, Rouseau phác họa một triết lý và phương pháp
giáo dục giúp cho “con người tự nhiên” (được ông phác họa trong Khế ước xã hội
có đủ sức khỏe thể chất và nghị lực tinh thần để đương đầu với những thử thách
trong cuộc đời. Sau Cộng hòa, quyển VIII của Platon, đây là công trình hoàn
chỉnh đầu tiên về triết lý giáo dục ở phương Tây, đồng thời cũng là loại hình
Bildunysroman (tiểu thuyết giáo dục) đầu tiên, sớm hơn quyển Wilhelm Meister
nổi tiếng của J. W. Goethe hơn ba mươi năm. Khó có thể nói hết về tầm ảnh
hưởng rộng rãi và sâu đậm của Rousseau đối với hậu thế. Trong khi học thuyết
chính trị của ông, đặc biệt khái niệm “ý chí phổ biến” (volonté générale) gây
nhiều nghi ngại về xu hướng “toàn tri” và chuyên chế (phải chăng đó cũng là ẩn ý
trong lời ca tụng của Robespierre), thì các bộ phận khác vẫn còn đây sức hấp dẫn.
Nếu cách tiếp cận mang tính chủ thể-cảm xúc (trong tiểu thuyết La Nouvelle
Héloise và trong Confessions) của ông đã không chỉ ảnh hưởng đến trào lưu văn
hóa lãng mạn Pháp mà cả đến các văn hào Đức như J. G. Von Herder, J. W.
Goethe, F. Von Schiller; việc nhấn mạnh đến tự do của ý chí và bác bỏ quan niệm
cố hữu ở phương Tây về “tội tố tông” đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phân tâm học
và triết học hiện sinh ở thế kỷ XX thì học thuyết của Rousseau về giáo dục còn có
sức tác động mạnh mẽ hơn nữa. Nó đã góp phần hình thành các phương pháp sư
phạm khoan dung, xem trọng tâm lý lứa tuổi của nền giáo dục hiện đại (“thuyết
phát triển”, “thuyết tiến hóa tự nhiên”...) với tên tuổi của nhiều nhà cải cách giáo
dục lừng danh như Friedrich Frôbel, J. Heinrich Pestalozzi, John Dewey, Mang
Montessori v..v... Đến với Rousseau là đến với trung tâm của bước ngoặt thời đại
giữa “trật tự cũ và “trật tự mới”. Do đó, ông không chỉ là nhà lý luận xã hội mà
còn là nhà lý luận giáo dục; và việc ông là cả hai, đồng thời có ảnh hưởng sâu đậm
ngang nhau trên hai lĩnh vực cho thấy mối liên kết nội tại chặt chẽ giữa những
biến chuyển xã hội ở thế kỷ XVIII ở Châu Âu và việc ra đời nền tân-giáo dục.
3
Bước ngoặt trong tư duy giáo dục được thể hiện dày đặc trong từng trang sách
khiến người đọc dường như luôn cảm thấy muốn dừng lại, dùng bút để gạch dưới
hay tô đậm hàng loạt những câu đặc sắc. Vượt qua khoảng cách 250 năm, tưởng
như Rousseau là người sống cùng thời với chúng ta, đang chia sẻ những nỗi lo âu
và bất bình của những người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một nền giáo
dục đang phạm nhiều sai lầm từ cơ sở triết lý, cách thiết kế cho đến phương pháp
sư phạm với một hậu quả đáng sợ cho phụ huynh lẫn con cái. Ta hãy thử nghe ông
nói: “Chúng ta xót thương cho số phận của tuổi thơ, thế mà chính số phận chúng
ta mới cần xót thương. Những nỗi đau lớn nhất của chúng ta do chúng ta mà ra”.
Vì đâu nên nỗi? Vì “người ta không hề hiểu biết tuổi thơ: dựa trên những ý tưởng
sai lầm của ta về tuổi thơ thì càng đi càng lạc lối (...) Họ luôn tìm kiếm người lớn
trong đứa trẻ mà không nghĩ về hiện trạng của đứa trẻ trước khi nó là người lớn”.
Nói cách khác, đó là nền giáo dục không hề “nhìn rõ chủ thể mà trên đó ta cần
thao tác. Vậy xin các vị hãy bắt đầu bằng việc nghiên cứu kỹ hơn các học trò của
mình”. Và cũng vì không hiểu rõ “chủ thế” của giáo dục là người học nên người
lớn tha hồ sử dụng phương pháp áp đặt: “thay vì giúp ta tìm ra các chứng minh,
người ta đọc cho ta viết các chứng minh ấy; thay vì dạy ta lập luận, ông thầy lập
luận hộ ta và chỉ rèn luyện trí nhớ của ta thôi”. Trong khi đó, đúng ra “vấn đề
không phải là dạy các môn khoa học, mà là đem lại cho người học hứng thú để
yêu khoa học và đem lại phương pháp để học những môn đó, khi hứng thú này
phát triển hơn lên. Chắc chắn đó là một nguyên lý cơ bản của bất kỳ nền giáo dục
tốt nào.
Thiếu các nguyên lý giáo dục đúng đắn dẫn đạo, ta chỉ tạo ra những con người
“được gia công.”, vừa được nuông chiều quá đáng trong vòng tay cha mẹ, vừa bị
kiềm tỏa đủ kiểu dưới mái nhà trường: “Những ý tưởng đầu tiên của trẻ là những
ý tưởng về quyền lực và khuất phục. Nó hạ lệnh trước khi biết nói, nó vâng theo
trước khi có thể hành động, và đôi khi người ta trừng phạt nó trước khi nó có thể
biết lỗi, hoặc nói đúng hơn là có thể phạm lỗi. Như vậy là người ta sớm rót vào
trái tim non nớt của nó những đam mê mà sau đó người ta quy tội cho tự nhiên, và
sau khi đã nhọc công làm nó thành tai ác, người ta lại phàn nàn vì thấy nó tai ác!”.
Sản phẩm tất yếu của một nền giáo dục áp đặt như thế thật đáng sợ:...” vừa là nô
lệ vừa là bạo chúa, đầy kiến thức và thiếu lương tri, yếu đuối bạc nhược về thể
chất cũng như tâm hồn, và bị quẳng vào xã hội Với Émile hay là về giáo dục,
Rousseau muốn thử phác họa một quan niệm khác về giáo dục. Quan niệm ấy vừa
mới mẻ, tiến bộ, vừa có không ít những mâu thuẫn, nghịch lý như bản thân cuộc
đời và toàn bộ học thuyết của ông. Nó “khiêu khích” và buộc ta phải suy nghĩ hơn
là quá “trơn tru” để ta dễ dàng nhắm mắt nghe theo!
1. Rousseau, nhà khai minh về khai minh
Rousseau sinh năm 1712 ở Genève, có một tuổi thơ u buồn và vất vả. Mẹ ông
mất khi vừa sinh ra ông. Chưa đến 10 tuổi, cha ông-một thợ làm đồng hồ tính tình
4
thô bạo-phải trốn khỏi Genève sau một vụ xô xát, bỏ ông lại cho người chú nuôi.
Ông phải sớm vất vả kiếm sống bằng đủ thứ nghề tay chân. Với tuổi 16, ông một
mình lang thang đến Turin, bắt đầu một cuộc đời đầy sóng gió cho đến khi nhắm
mắt: Làm thuê, hát dạo, làm người tình bất đắc dĩ của một mệnh phụ lớn tuổi, làm
gia sư... Ông phát minh một ký âm pháp mới mẻ cho âm nhạc, làm thư ký cho
phái viên Pháp Ở Venise, được giải thưởng danh giá của Viện Hàm Lâm tên tuổi ở
Dijon, được Diderot mời viết mục âm nhạc cho Bộ Bách khoa từ điển nổi tiếng,
nhưng suốt đời sống bằng nghề chép nhạc. Ông lừng danh khắp Âu châu đồng
thời luôn bị truy nã về chính trị. Ông có năm con, nhưng lại gửi hết vào trại mồ
côi! Ông sống cuộc đời lưu vong lang bạt ở Ý, Thụy Sĩ, Pháp và Anh. Ông mất cô
đơn năm 1778 trong trắng trại của một Mạnh Thường quân người Pháp. Di hài của
ông cũng không yên: Năm 1794 cao điểm của Cách mạng Pháp, được đưa vào
điện Panthéon đầy vinh quang, rồi 20 năm sau, 1814 lại bị trục xuất và tiêu hủy
(cùng với di hài của Voltaire) sau khi triều đình Bourbons được khôi phục!
Có thể nói học thuyết của Rousseau bắt nguồn từ những trải nghiệm đầy cay
đắng và dằn vặt của bản thân ông trong bối cảnh xã hội đương thời. Bằng vài nét
phác hoạ, ta thử dõi theo cuộc hành trình tư tưởng của Rousseau dẫn đến tác phẩm
Émile hay là về giáo dục:
Bài Luận văn thứ nhất (1750)
Các “philosophes” của thế kỷ ánh sáng hoan nghênh sự tiến bộ của kỹ thuật và
sự bành trướng của thương mãi và công nghiệp khắp Âu châu. Họ nhấn mạnh
rằng con người cần sử dụng lý tính để vừa hiểu biết thế giới, vừa hiện đại hóa
chính quyền và luật pháp. Họ chống lại một hình thức áp bức và kiểm duyệt, tin
tưởng vào sự tự do của tư tưởng và công luận. Phần lớn những tư tưởng mới của
các “philosophes” đều bắt nguồn từ các nhà tư tưởng tiên phong của nước Anh
như Francis Bacon (l561-l626) và John Locke (l632-l704). Nhưng các
“philosophes” Pháp dũng cảm và quyết liệt hơn các đồng nghiệp người Anh. Giáo
hội ở Pháp cũng hùng mạnh hơn, còn nhà nước bảo hoàng thì chuyên chế hơn, vì
thế, sự phê phán đối với hai định chế ấy đòi họ phải trả giá đắt. Rốt cuộc, Diderot,
thủ lĩnh của phong trào khai minh Pháp bị tống giam vào ngục tối. Rousseau
thường đi bộ từ Paris đến Vincennes để thăm Diderot, qua đó có dịp làm quen với
các trí thức khác như Friedrich Grimon và Baron di Holbach. Từ năm 1746,
Rousseau đã trở thành một khuôn mặt quan trọng trong đời sống trí thức ở Paris.
Trong một chuyến thăm Diderot trong ngục thất, Rousseau đã đột nhiên có một sự
“thức nhận” mới mẻ, biến chàng nhạc sĩ trung niên lang thang thành một triết gia
nổi tiếng thế giới. Đó là vào năm 1749 trên đường đến Vincennes, Rousseau đọc
báo thấy tin Viện Hàn lâm ở Dijon treo giải cho cuộc thi viết về để tài: “Phải
chăng sự tiến bộ của các ngành khoa học và nghệ thuật đã góp phần lành mạnh
hóa phong tục?”. Ông kể lại: “Đúng giây phút tôi đọc tin ấy, tôi đã thấy một thế
giới khác và tôi đã trở thành một con người khác. Đột nhiên lòng tôi ánh lên hàng
5
nghìn tia chớp... Tôi xúc động quá đến nỗi phải ngồi nghỉ dưới gốc cây suốt nửa
tiếng đồng hồ, và khi đứng lên, cả vạt áo tôi đã ướt đầm nước mắt!”. Diderot, vốn
thích tranh biện, gặp Rousseau trong tình trạng bị kích động cao độ như thế, đã
khuyên Rousseau nên tham gia cuộc thi. Và, như đã biết, bài Luận văn về khoa
học và nghệ thuật của ông đã gây chấn động dư luận vì ông đã trả lời “không” cho
câu hỏi ấy!
Câu trả lời đã đi vào lịch sử của một trong những nhà khai minh hàng đầu của
thế kỷ khiến mọi người sửng sốt. Ông đã hoài nghi triệt để niềm tin cơ bản của
phong trào khai minh rằng lý tính là nguồn gốc không chỉ của cái Chân mà cả của
cái Thiện. Tuy nhiên, Rousseau đã làm như thế bằng chính phương tiện và công
cụ của sự khai minh, nghĩa là, điều ông làm chính là sự khai minh về khai minh,
tức, một sự khai minh có sự phản tư tự-phê phán. Luận điểm trung tâm: Rousseau
phê phán mạnh mẽ các hình thức xã hội nhân tạo và giả tạo do lý tính con người
lập ra vì chính chúng đã làm tha hóa bản tính sâu xa nhất của con người.
-Tất nhiên, sự phê phán-xã hội của ông trước hết nhắm đến xã hội đương thời
của nền chuyên chế quý tộc với cuộc sống và lề thói “cung đình”: “Lề thói cung
đình buộc người ta phải tuân theo quy ước chứ không theo bản tính của chính
mình. Người ta không còn dám tự thể hiện là chính mình, và, dưới sự cưỡng chế
thường xuyên, con người của “xã hội” này là một bầy đàn làm giống hệt nhau
[6]
trong những hoàn cảnh giống hệt nhau”.
-Thứ hai, Rousseau nhấn mạnh rằng việc đơn thuần sử dụng lý tính không đủ
để đảm bảo một cuộc sống đức hạnh, tương ứng với bản tính con người, vì bản
tính con người tuy được quy định bởi lý tính nhưng cũng còn bởi bản tính tự nhiên
(nature) nữa. Ông chống lại xã hội đương thời, vì nó dựa vào lý tính để đè nén bản
tính tự nhiên của con người. Nhưng, ông chống lại cũng bằng cách dựa vào lý tính
để giải phóng bản tính con người ra khỏi những xiềng xích ấy.
Bài Luận văn thứ hai (1754)
Năm 1754, viện Hàn lâm Dijon lại thông báo một cuộc thi viết khác, với đề
tài: Đâu là nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa con người và phải chăng nó
được biện minh bằng pháp quyền tự nhiên? Ngụ ý của đề tài: Những sự bất bình
đẳng xã hội (tầng lớp, giai cấp...) không gì khác hơn là Sự thể hiện ra bên ngoài
của những sự bất bình đẳng tự nhiên (như chiều cao và sức mạnh). Đó là một ấn ý
khiến Rousseau phẫn nộ. Ông thuật lại: “Suốt ngày tôi lang thang trong rừng, hét
to cho mình nghe: “Hỡi bọn người điên khùng không ngừng trách móc tự nhiên,
hãy biết rằng mọi tội lỗi của các người đều do chính bản thân các người gây ra!”
Bài Luận văn thứ hai cho thấy Rousseau là một triết gia đích thực chứ không
chỉ là một “thí sinh viết luận văn”. Bài viết phức tạp, khó đọc vì đề cập nhiều đến
các triết gia chính trị khác như Grotius, Locke và Hobbes chung quanh vấn đề
“bản tính con người”. Ta biết rằng một giả thuyết về “bản tính con người” thường
6
là một bộ phận không thể thiếu của bất kỳ học thuyết chính trị nào. Xã hội gồm
những con người, vì thế thật dễ hiểu khi người ta bắt đầu với việc tìm hiểu cái
“vật liệu tạo nên xã hội. Nhưng, ngay các triết gia Hy Lạp cổ đại như Protagoras
(490-420 trước CN) đã sớm nhận ra rằng các xã hội loài người quá phức tạp và dị
biệt, nên dường như không có một “bản tính người” bền vững hay cố định.
Aristoteles thì cho rằng con người “về bản chất” là sinh vật xã hội, vì thế chỉ hoàn
hảo và hạnh phúc khi trở thành những người công dân tốt. Các “triết gia hiện đại”
như Machiavelh (l469-l527) và Hobbes (l588-l679) không đồng ý. Machiavelli:
Con người là ích kỷ và luôn hành xử xấu xa trừ khi bị Pháp luật và các định chế
chính trị hùng mạnh cường chế. Hobbes: Con người sở dĩ chịu phục tùng quyền
uy tuyệt đối của chính quyền chỉ là vì cần sự bảo vệ trước sự uy hiếp thưởng trực
giữa những con người với nhau. Rousseau có cái nhìn khác so với các học thuyết
“duy bản chất” ấy. Với ông, “bản tính tự nhiên” của con người quá độc đáo, đơn
nhất nên không thể nói về “bản tính người” nói chung. Con người có một lịch sử.
Họ đã biến đổi từ một trạng thái này (như là những động vật linh trưởng cô độc,
đơn giản và “hồn nhiên vô tội”) đến một trạng thái khác (những con người-xã hội
phức tạp, được văn minh hóa như chúng ta ngày nay). Các xã hội đã tạo ra con
người không khác gì chính con người đã tạo ra các xã hội khác nhau. Vậy, con
người lẫn xã hội đều luôn tiến hóa thành cái gì khác với trước, và những biến đổi
xã hội nào đến muộn hơn, thì càng có ảnh hưởng mạnh hơn. Nói cách khác, con
người, theo Rousseau, là hết sức “mềm dẻo”, đều bị “uốn nắn”, nên chỉ có thể có
“những bản tính con người khác nhau mà thôi (quan niệm về tính mềm dẻo của
bản tính con người và về mối quan hệ của nó với thế giới xã hội và văn hóa của
Rousseau đã có ảnh hưởng lớn đến Hegel và Marx). Ở đây, ta nên dành một trang
để điểm lại ngắn gọn một số luận điềm chủ yếu của ông:
-Trạng thái tự nhiên: Nếu mọi xã hội đều khác nhau, thì có nghĩa rằng chúng
đều giả tạo và không có gì là “tự nhiên” cả. Cũng có nghĩa rằng con người “tự
nhiên” hay tiền-xã hội đã từng tồn tại trong một “trạng thái tự nhiên” rất xa xưa
trước khi xã hội và chính trị được thành lập. Ý tưởng về một “trạng thái tự nhiên”
thường được các triết gia chính trị dùng để mô tả thế giới tiền-xã hội. Với Hobbes,
“trạng thái tự nhiên” luôn là một trạng thái chiến tranh với sự hăm dọa thường
trực. Locke thì lạc quan hơn: Trạng thái tự nhiên bao gồm những con người có tư
hữu chỉ có điều những quyền tư hữu hay những nghĩa vụ dân sự chưa được xác
định rõ ràng. “Trạng thái tự nhiên” của Rousseau thì phức tạp hơn, mang nặng
màu sắc nhân loại học và chỉ có ý nghĩa lý thuyết và giả tưởng.
-Pháp quyền tự nhiên: Đề tài của Viện Hàn lâm nhắc đến “pháp quyền tự
nhiên”. Vậy, nó là gì Grotius và Pufendorf cho rằng có những “quy luật hay pháp
quyền tự nhiên” phổ biến luôn luôn đúng và có hiệu lực độc lập với những quy
điều pháp luật của xã hội. Chúng được rút ra từ bản tính tự nhiên của con người.
Rousseau khéo léo tránh nói về “pháp quyền tự nhiên” vì ông không tin vào một
7
“bản tính tự nhiên” bất biến, cố định của con người. Trước hết, thế nào là “bản
tính tự nhiên”? Với Aristoteles, đó là cái gì thuộc bản chất của sự vật chứ không
phải giả tạo hay tùy thuộc (chẳng hạn, nơi con người, thở, đi... là “tự nhiên”, khác
với việc có chiếc mũi thật đẹp hay đôi chân thật dài). Rousseau hiểu khác: “tự
nhiên” là không bị ô nhiễm bởi xã hội giả tạo!
-Con người tự nhiên: Theo Rousseau, bản tính tự nhiên nguyên thủy của con
người là “tốt”, nhưng bị xã hội giả tạo làm cho đồi bại đi. Có nghĩa: Bên trong
mỗi con người hiện đại đều lưu lại dấu vết của một bản ngã thiện hảo hơn của thời
xa xưa. Nhưng, ta lại không thể nào mô tả chính xác “con người tự nhiên” nguyên
thủy ấy, vì, giống như bức tượng được vớt lên từ đáy biến, bị xói mòn và bám đầy
rong rêu, ta không thể thấy rõ được “bản lai diện mục” của “con người tự nhiên”
hiểu như sự thật lịch sử mà chỉ như là giả thuyết cho việc nghiên cứu triết học:
“không thể biết rõ về một trạng thái không còn tồn tại hay có thể đã và sẽ không
bao giờ tồn tại” mà chỉ có thể phỏng đoán dựa vào một số dấu vết hiển nhiên,
chẳng hạn nơi các bộ lạc nguyên thủy còn sót lại hay nơi cách hành xử của các
loài linh trưởng cấp cao. Trái với cái nhìn bi quan của Hobbes, họ có thể đã là
những con người sống cô độc và giản dị, yêu hòa bình, không gia đình hay của
cải, và nhất là không có ý niệm gì về tài sản, sự công bằng, sự chăm chỉ hay chiến
tranh. Nói cách khác, họ là những con người tiền-luân lý, và hạnh phúc hơn chúng
ta ngày nay. Cũng trái với quan niệm lạc quan của Grotius rằng họ vẫn có óc hợp
quần và hợp lý, Rousseau cho rằng họ không có ngôn ngữ và chỉ có những ý
tưởng đơn giản dựa trên những cảm giác trực tiếp. Họ là “tốt” và “hồn nhiên” theo
nghĩa thụ động là không làm điều gì nguy hại. Họ chưa có cách hành xử văn minh
với tư duy logic hay sự hợp tác. Do đó, không thể rút ra những “pháp quyền tự
nhiên” từ “bản tính tự nhiên” của họ được.
-Con người hiện đại và xã hột hiện đại: Khí hậu thay đổi, dân số gia tăng đã
tập hợp họ lại thành những bộ lạc, dần định cư, bắt đầu lưu ý đến nhau và sự so
sánh đã dẫn đến lòng ghen tị, sự bất bình đẳng, sự kiêu ngạo hay quy lụy. Vậy
định chế tài sản hay sự bất bình đẳng xã hội không phải là những gì “tự nhiên”,
“không thể tránh được” mà bắt nguồn từ những sự lựa chọn trong quá khứ được
hợp thức hóa bằng những “khế ước” xã hội và chính trị. Khác với Locke, “con
người tự nhiên” của Rousseau thoạt đầu không biết gì về tài sản hay “luật pháp”.
Chính một thiểu số khôn ngoan, ranh mãnh đã dụ dỗ số đông tham gia vào một
“Khế ước xã hội” để bảo đảm sự an ninh và sự thống trị của pháp luật. Nhờ đó,
người giàu chiếm hữu và làm cho mọi người khác nghèo đi. Quan hệ xã hội trở
thành quan hệ chủ nô.
-Chọn con đường khác: Rousseau đồng ý với việc dùng “khế ước xã hội” để lý
giải nguồn gốc của xã hội và chính quyền, nhưng ông cho rằng “khế ước” như thế
luôn sai lầm và nay không còn hiệu lực ràng buộc nữa. Khác với con vật con
người có năng lực tự giác và vì thế, là tự do, nên nếu đã có thể biến “trạng thái tự
8
nhiên” thành “trạng thái đồi bại” thì từ nay cũng có thể thay đổi vận mệnh của
chính mình. Mọi việc phải và có thể được thay đổi!
Lần này, Rousseau không chỉ không được nhận giải mà còn chuốc lấy sự giận
dữ và thù địch của hầu hết các “philosophes “ vốn từng sát cánh bên nhau.
Voltaire viết cho Rousseau: “Thưa ông, tôi đã nhận được quyển sách mới của ông
chống lại loài người và xin “méc xì” ông... Chưa bao giờ nhiều sự thông minh đến
như thế đã được dùng để làm cho con người trở nên ngu xuẩn. Khi đọc nó, người
ta chỉ còn muốn bò bằng bốn chân mà thôi!”. Tình bạn đã bị đổ vỡ, nhưng tượng
đài sừng sững của một cách suy nghĩ “khác” đã ra đời: Rousseau lánh xa Paris, rút
vào an cư và tiếp tục viết...
Năm 1762, Rousseau công bố tác phẩm chính trị quan trọng nhất của mình:
Về khế ước xã hội (Du contratsocial). Câu đầu tiên: “Con người sinh ra tự do, và
đâu đâu cũng bị ở trong xiềng xích”.
Nhưng, nếu đã thế, nếu sự mất tự do không phải do tự nhiên (hay Thượng đế)
tạo ra thì nó là sản phẩm của chính con người do đã xa rời và tự tha hóa khỏi trạng
thái nguyên thủy. Và vậy thì, cũng chính con người (chứ không phải chờ đến kiếp
sau) phải tự giải phóng chính mình (chứ không thể ngồi chờ Thượng để giải thoát
cho)! Không sức mạnh nào khác hơn sức mạnh của chính lý tính có thể hàn gắn
lại những gì đã đổ vỡ. Thế nhưng, để làm điều đó, lý tính cần có một thước đo,
một chuẩn mực mà nó luôn có thể quy chiếu chứ không thể tùy tiện đặt ra: “ bản
tính tự nhiên” của con người. Với Rousseau, đó là sự tự do nguyên thủy, không
phải đạt được bằng lý tính tính toán mà bằng sự thoát ly khỏi sự ô nhiễm của xã
hội; và đó là sự tự do của CON NGƯỜI, tức của bất kỳ một con người nào chứ
không chỉ của những thành viên nhất định của một tầng lớp nhất định được ưu đãi
vì nguồn gốc xuất thân.
2. Bản tính tự nhiên và giáo dục
Tác phẩm Émile hay là về g
 





