BÁO XUÂN 2026

TÌM HIẺU VỀ CÁC NHÀ KHOA HỌC


BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN THÔNG TIN THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • CHÁU YÊU CHÚ BỘ ĐỘI


    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7495249072521_a4800240342df96a17101276cdb0f04a.jpg Z7495249129664_5491118684fdd34984640a94b7a38ffe.jpg Z7495249143754_057e34276806093153fec1672c3ff618.jpg Z7495249143855_04da707cd20f00be5fa876398db68164.jpg Z7495249126993_60642d5c877ce159fd89cf4abd70785e.jpg Z7495249132130_dbedac040ca42fea2f009123a2c792f1.jpg Z7495249070337_9ce3a2338897fc16c8b7094a6b555c64.jpg Z7495249061932_27ca5568457e83ccc4659433e6ebef53.jpg Z7495249056450_1be56e8b2ecf117273e8ac07e84af633.jpg MA.jpg CHI.jpg CHI.jpg CHI_1.jpg CHI_4.jpg 5.jpg 12.jpg CHI_O.jpg

    THƯ VIỆN TRƯỜNG TH NAM VIÊM MỞ RA CHÂN TRỜI TRI THỨC

    MỖI HỌC SINH BIẾT YÊU SÁCH LÀ 1 HẶT MẦM VĂN HOÁ ĐƯỢC GIEO TRỒNG. THƯ VIỆN LÀ TRÁI TIM HỌC THUẬT CỦA NHÀ TRƯỜNG 💕💕

    CHÀO XUÂN MỚI


    DANH NGÔN SÁCH

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri

    Emile hay là về giáo dục

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đàm Thị Hằng
    Ngày gửi: 07h:56' 28-01-2026
    Dung lượng: 4.6 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    1

    DẠY VÀ HỌC LÀM NGUỜI
    BÙI VĂN NAM SƠN
    [1]
    Việc học tập đích thực của chúng ta là học tập về thân phận con người”...
    J.J. Rousseau (Émile hay là về giáo dục)
    Triết gia Immanual Kant (l724-l804) tác giả của câu trả lời nổi tiếng về “Khai
    [2]
    minh là gì” có kỷ luật sinh hoạt hết sức nghiêm ngặt: Đúng bốn giờ chiều mỗi
    ngày, ông ra khỏi nhà, đi dạo, luôn luôn một mình, trên cùng một con đường. Giai
    thoại thường kế: dân Kònigberg chờ ông ra khỏi nhà để lên dây cót hoặc chỉnh
    đồng hồ! Và tương truyền chỉ có hai ran Kant trễ “thời khóa biểu trong suốt mấy
    mươi năm: Nhận được tác phẩm Émile hay là về giáo dục của J. J. Rousseau và
    nghe tin Đại Cách mạng Pháp bùng nổ. Hai sự kiện cách nhau ngót 30 năm
    (l762/1789) nhưng với Kant, có lẽ quyền sách này cũng quan trọng không kém
    cuộc cách mạng kia, nếu không muốn nói, cái sau chính là kết quả của cái trước.
    Ta nhớ đến lời ca tụng của một trong các lãnh tụ khét tiếng của Cách mạng Pháp,
    Robespierre: “Trong số những nhà tư tưởng thì chỉ có Rousseau mới thật xứng
    đáng với danh hiệu là người Thầy của nhân loại” (diễn văn ngày 7.5.1794) Kant,
    suốt đời sống độc thân (tức không có nhu cầu giáo dục con cái!), cũng đã trở
    thành một nhà đại giáo dục tiêu biểu cho thời cận đại là nhờ chịu ảnh hướng sâu
    đậm của J. J. Rousseau khi Kant nói: “Con người là tạo vật duy nhất cần phải
    [3]
    được giáo dục”
    hay “Con người chỉ có thể trở thành người là nhờ giáo dục.
    [4]
    Con người là những gì được giáo dục tạo nên” . Vấn đề chỉ còn là: Nền giáo
    dục ấy phải như thế nào?
    Đối với nước ta, J. J. Rousseau cũng không phải là một tên tuổi xa lạ. Trong
    một vế của đôi câu liễn trên bia mộ của cụ Phan Châu Trinh do nhân dân Sài Gòn
    phụng lập năm 1926 ta đã đọc thấy tám chữ. “Trung học Mạnh Kha, Tây học Lư
    Thoa”... ngụ ý ca ngợi Cụ thâu gồm tinh hoa của cả hai nền văn hóa Đông Tây:
    Mạnh Kha là tên thật của Mạnh Tử, còn Lư Thoa chính là J. J. Rousseau theo cách
    phiên âm quen thuộc vào những thập niên đâu thế kỷ XX Phần “tinh hoa” ấy chủ
    yếu là tinh thần “dân vi quý” nơi Mạnh Tử và chủ trương “dân chủ”, “bình đẳng”
    trong tác phẩm Khế ước xã hội (Du contratsocial, 1762) của J. J. Rousseau. Là
    người tiếp thu sớm nhất các tư tưởng ấy, cụ Phan xứng đáng được tôn vinh là nhà
    cách mạng dân chủ tiên phong đầu tiên (“dân chủ tiên thanh”) của nước ta. Phần
    tinh túy khác của Rousseau còn ít được giới thiệu, đó là học thuyết và triết lý của
    ông về giáo dục được trình bày trong Émile hay là về giáo dục, công bố cùng năm
    với quyển Khế ước xã hội (l762), nhưng lại được ông xem là “quyển hay nhất và

    2

    [5]
    quan trọng nhất trong mọi trước tác của tôi” . Quyển sách “hay nhất” là điều dễ
    nhận thấy khi ta sắp được thưởng thức văn tài kiệt xuất, nổi tiếng là cuồn cuộn
    như nước chảy mây trôi của Rousseau qua bản dịch công phu và tài hoa, thật xứng
    đáng với nguyên tác của hai dịch giả Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương mà hôm
    nay tôi vinh hạnh được viết đôi lời giới thiệu. Nó cũng là “quan trọng nhất” vì đây
    là một công trình triết luận đồ sộ về bản tính của con người: Ông đặt nhiều
    câu hỏi triết học và chính trị về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, nhất là câu
    hỏi: Làm sao cá nhân có thể bảo tồn cái “thiện chân” (theo quan niệm của
    Rousseau về “tính bản thiện tự nhiên” của con người) khi dấn mình vào cuộc sống
    xô bồ và “đồi bại” không tránh khỏi của xã hội. Trong Émile hay là về giáo dục,
    thông qua câu chuyện giả tưởng về cậu bé Émile được người thầy giáo dục từ lúc
    mới chào đời cho đến khi lập gia đình và trở thành “người công dân lý tưởng”
    thông qua năm giai đoạn đào tạo, Rouseau phác họa một triết lý và phương pháp
    giáo dục giúp cho “con người tự nhiên” (được ông phác họa trong Khế ước xã hội
    có đủ sức khỏe thể chất và nghị lực tinh thần để đương đầu với những thử thách
    trong cuộc đời. Sau Cộng hòa, quyển VIII của Platon, đây là công trình hoàn
    chỉnh đầu tiên về triết lý giáo dục ở phương Tây, đồng thời cũng là loại hình
    Bildunysroman (tiểu thuyết giáo dục) đầu tiên, sớm hơn quyển Wilhelm Meister
    nổi tiếng của J. W. Goethe hơn ba mươi năm. Khó có thể nói hết về tầm ảnh
    hưởng rộng rãi và sâu đậm của Rousseau đối với hậu thế. Trong khi học thuyết
    chính trị của ông, đặc biệt khái niệm “ý chí phổ biến” (volonté générale) gây
    nhiều nghi ngại về xu hướng “toàn tri” và chuyên chế (phải chăng đó cũng là ẩn ý
    trong lời ca tụng của Robespierre), thì các bộ phận khác vẫn còn đây sức hấp dẫn.
    Nếu cách tiếp cận mang tính chủ thể-cảm xúc (trong tiểu thuyết La Nouvelle
    Héloise và trong Confessions) của ông đã không chỉ ảnh hưởng đến trào lưu văn
    hóa lãng mạn Pháp mà cả đến các văn hào Đức như J. G. Von Herder, J. W.
    Goethe, F. Von Schiller; việc nhấn mạnh đến tự do của ý chí và bác bỏ quan niệm
    cố hữu ở phương Tây về “tội tố tông” đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phân tâm học
    và triết học hiện sinh ở thế kỷ XX thì học thuyết của Rousseau về giáo dục còn có
    sức tác động mạnh mẽ hơn nữa. Nó đã góp phần hình thành các phương pháp sư
    phạm khoan dung, xem trọng tâm lý lứa tuổi của nền giáo dục hiện đại (“thuyết
    phát triển”, “thuyết tiến hóa tự nhiên”...) với tên tuổi của nhiều nhà cải cách giáo
    dục lừng danh như Friedrich Frôbel, J. Heinrich Pestalozzi, John Dewey, Mang
    Montessori v..v... Đến với Rousseau là đến với trung tâm của bước ngoặt thời đại
    giữa “trật tự cũ và “trật tự mới”. Do đó, ông không chỉ là nhà lý luận xã hội mà
    còn là nhà lý luận giáo dục; và việc ông là cả hai, đồng thời có ảnh hưởng sâu đậm
    ngang nhau trên hai lĩnh vực cho thấy mối liên kết nội tại chặt chẽ giữa những
    biến chuyển xã hội ở thế kỷ XVIII ở Châu Âu và việc ra đời nền tân-giáo dục.

    3

    Bước ngoặt trong tư duy giáo dục được thể hiện dày đặc trong từng trang sách
    khiến người đọc dường như luôn cảm thấy muốn dừng lại, dùng bút để gạch dưới
    hay tô đậm hàng loạt những câu đặc sắc. Vượt qua khoảng cách 250 năm, tưởng
    như Rousseau là người sống cùng thời với chúng ta, đang chia sẻ những nỗi lo âu
    và bất bình của những người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một nền giáo
    dục đang phạm nhiều sai lầm từ cơ sở triết lý, cách thiết kế cho đến phương pháp
    sư phạm với một hậu quả đáng sợ cho phụ huynh lẫn con cái. Ta hãy thử nghe ông
    nói: “Chúng ta xót thương cho số phận của tuổi thơ, thế mà chính số phận chúng
    ta mới cần xót thương. Những nỗi đau lớn nhất của chúng ta do chúng ta mà ra”.
    Vì đâu nên nỗi? Vì “người ta không hề hiểu biết tuổi thơ: dựa trên những ý tưởng
    sai lầm của ta về tuổi thơ thì càng đi càng lạc lối (...) Họ luôn tìm kiếm người lớn
    trong đứa trẻ mà không nghĩ về hiện trạng của đứa trẻ trước khi nó là người lớn”.
    Nói cách khác, đó là nền giáo dục không hề “nhìn rõ chủ thể mà trên đó ta cần
    thao tác. Vậy xin các vị hãy bắt đầu bằng việc nghiên cứu kỹ hơn các học trò của
    mình”. Và cũng vì không hiểu rõ “chủ thế” của giáo dục là người học nên người
    lớn tha hồ sử dụng phương pháp áp đặt: “thay vì giúp ta tìm ra các chứng minh,
    người ta đọc cho ta viết các chứng minh ấy; thay vì dạy ta lập luận, ông thầy lập
    luận hộ ta và chỉ rèn luyện trí nhớ của ta thôi”. Trong khi đó, đúng ra “vấn đề
    không phải là dạy các môn khoa học, mà là đem lại cho người học hứng thú để
    yêu khoa học và đem lại phương pháp để học những môn đó, khi hứng thú này
    phát triển hơn lên. Chắc chắn đó là một nguyên lý cơ bản của bất kỳ nền giáo dục
    tốt nào.
    Thiếu các nguyên lý giáo dục đúng đắn dẫn đạo, ta chỉ tạo ra những con người
    “được gia công.”, vừa được nuông chiều quá đáng trong vòng tay cha mẹ, vừa bị
    kiềm tỏa đủ kiểu dưới mái nhà trường: “Những ý tưởng đầu tiên của trẻ là những
    ý tưởng về quyền lực và khuất phục. Nó hạ lệnh trước khi biết nói, nó vâng theo
    trước khi có thể hành động, và đôi khi người ta trừng phạt nó trước khi nó có thể
    biết lỗi, hoặc nói đúng hơn là có thể phạm lỗi. Như vậy là người ta sớm rót vào
    trái tim non nớt của nó những đam mê mà sau đó người ta quy tội cho tự nhiên, và
    sau khi đã nhọc công làm nó thành tai ác, người ta lại phàn nàn vì thấy nó tai ác!”.
    Sản phẩm tất yếu của một nền giáo dục áp đặt như thế thật đáng sợ:...” vừa là nô
    lệ vừa là bạo chúa, đầy kiến thức và thiếu lương tri, yếu đuối bạc nhược về thể
    chất cũng như tâm hồn, và bị quẳng vào xã hội Với Émile hay là về giáo dục,
    Rousseau muốn thử phác họa một quan niệm khác về giáo dục. Quan niệm ấy vừa
    mới mẻ, tiến bộ, vừa có không ít những mâu thuẫn, nghịch lý như bản thân cuộc
    đời và toàn bộ học thuyết của ông. Nó “khiêu khích” và buộc ta phải suy nghĩ hơn
    là quá “trơn tru” để ta dễ dàng nhắm mắt nghe theo!
    1. Rousseau, nhà khai minh về khai minh
    Rousseau sinh năm 1712 ở Genève, có một tuổi thơ u buồn và vất vả. Mẹ ông
    mất khi vừa sinh ra ông. Chưa đến 10 tuổi, cha ông-một thợ làm đồng hồ tính tình

    4

    thô bạo-phải trốn khỏi Genève sau một vụ xô xát, bỏ ông lại cho người chú nuôi.
    Ông phải sớm vất vả kiếm sống bằng đủ thứ nghề tay chân. Với tuổi 16, ông một
    mình lang thang đến Turin, bắt đầu một cuộc đời đầy sóng gió cho đến khi nhắm
    mắt: Làm thuê, hát dạo, làm người tình bất đắc dĩ của một mệnh phụ lớn tuổi, làm
    gia sư... Ông phát minh một ký âm pháp mới mẻ cho âm nhạc, làm thư ký cho
    phái viên Pháp Ở Venise, được giải thưởng danh giá của Viện Hàm Lâm tên tuổi ở
    Dijon, được Diderot mời viết mục âm nhạc cho Bộ Bách khoa từ điển nổi tiếng,
    nhưng suốt đời sống bằng nghề chép nhạc. Ông lừng danh khắp Âu châu đồng
    thời luôn bị truy nã về chính trị. Ông có năm con, nhưng lại gửi hết vào trại mồ
    côi! Ông sống cuộc đời lưu vong lang bạt ở Ý, Thụy Sĩ, Pháp và Anh. Ông mất cô
    đơn năm 1778 trong trắng trại của một Mạnh Thường quân người Pháp. Di hài của
    ông cũng không yên: Năm 1794 cao điểm của Cách mạng Pháp, được đưa vào
    điện Panthéon đầy vinh quang, rồi 20 năm sau, 1814 lại bị trục xuất và tiêu hủy
    (cùng với di hài của Voltaire) sau khi triều đình Bourbons được khôi phục!
    Có thể nói học thuyết của Rousseau bắt nguồn từ những trải nghiệm đầy cay
    đắng và dằn vặt của bản thân ông trong bối cảnh xã hội đương thời. Bằng vài nét
    phác hoạ, ta thử dõi theo cuộc hành trình tư tưởng của Rousseau dẫn đến tác phẩm
    Émile hay là về giáo dục:
    Bài Luận văn thứ nhất (1750)
    Các “philosophes” của thế kỷ ánh sáng hoan nghênh sự tiến bộ của kỹ thuật và
    sự bành trướng của thương mãi và công nghiệp khắp Âu châu. Họ nhấn mạnh
    rằng con người cần sử dụng lý tính để vừa hiểu biết thế giới, vừa hiện đại hóa
    chính quyền và luật pháp. Họ chống lại một hình thức áp bức và kiểm duyệt, tin
    tưởng vào sự tự do của tư tưởng và công luận. Phần lớn những tư tưởng mới của
    các “philosophes” đều bắt nguồn từ các nhà tư tưởng tiên phong của nước Anh
    như Francis Bacon (l561-l626) và John Locke (l632-l704). Nhưng các
    “philosophes” Pháp dũng cảm và quyết liệt hơn các đồng nghiệp người Anh. Giáo
    hội ở Pháp cũng hùng mạnh hơn, còn nhà nước bảo hoàng thì chuyên chế hơn, vì
    thế, sự phê phán đối với hai định chế ấy đòi họ phải trả giá đắt. Rốt cuộc, Diderot,
    thủ lĩnh của phong trào khai minh Pháp bị tống giam vào ngục tối. Rousseau
    thường đi bộ từ Paris đến Vincennes để thăm Diderot, qua đó có dịp làm quen với
    các trí thức khác như Friedrich Grimon và Baron di Holbach. Từ năm 1746,
    Rousseau đã trở thành một khuôn mặt quan trọng trong đời sống trí thức ở Paris.
    Trong một chuyến thăm Diderot trong ngục thất, Rousseau đã đột nhiên có một sự
    “thức nhận” mới mẻ, biến chàng nhạc sĩ trung niên lang thang thành một triết gia
    nổi tiếng thế giới. Đó là vào năm 1749 trên đường đến Vincennes, Rousseau đọc
    báo thấy tin Viện Hàn lâm ở Dijon treo giải cho cuộc thi viết về để tài: “Phải
    chăng sự tiến bộ của các ngành khoa học và nghệ thuật đã góp phần lành mạnh
    hóa phong tục?”. Ông kể lại: “Đúng giây phút tôi đọc tin ấy, tôi đã thấy một thế
    giới khác và tôi đã trở thành một con người khác. Đột nhiên lòng tôi ánh lên hàng

    5

    nghìn tia chớp... Tôi xúc động quá đến nỗi phải ngồi nghỉ dưới gốc cây suốt nửa
    tiếng đồng hồ, và khi đứng lên, cả vạt áo tôi đã ướt đầm nước mắt!”. Diderot, vốn
    thích tranh biện, gặp Rousseau trong tình trạng bị kích động cao độ như thế, đã
    khuyên Rousseau nên tham gia cuộc thi. Và, như đã biết, bài Luận văn về khoa
    học và nghệ thuật của ông đã gây chấn động dư luận vì ông đã trả lời “không” cho
    câu hỏi ấy!
    Câu trả lời đã đi vào lịch sử của một trong những nhà khai minh hàng đầu của
    thế kỷ khiến mọi người sửng sốt. Ông đã hoài nghi triệt để niềm tin cơ bản của
    phong trào khai minh rằng lý tính là nguồn gốc không chỉ của cái Chân mà cả của
    cái Thiện. Tuy nhiên, Rousseau đã làm như thế bằng chính phương tiện và công
    cụ của sự khai minh, nghĩa là, điều ông làm chính là sự khai minh về khai minh,
    tức, một sự khai minh có sự phản tư tự-phê phán. Luận điểm trung tâm: Rousseau
    phê phán mạnh mẽ các hình thức xã hội nhân tạo và giả tạo do lý tính con người
    lập ra vì chính chúng đã làm tha hóa bản tính sâu xa nhất của con người.
    -Tất nhiên, sự phê phán-xã hội của ông trước hết nhắm đến xã hội đương thời
    của nền chuyên chế quý tộc với cuộc sống và lề thói “cung đình”: “Lề thói cung
    đình buộc người ta phải tuân theo quy ước chứ không theo bản tính của chính
    mình. Người ta không còn dám tự thể hiện là chính mình, và, dưới sự cưỡng chế
    thường xuyên, con người của “xã hội” này là một bầy đàn làm giống hệt nhau
    [6]
    trong những hoàn cảnh giống hệt nhau”.
    -Thứ hai, Rousseau nhấn mạnh rằng việc đơn thuần sử dụng lý tính không đủ
    để đảm bảo một cuộc sống đức hạnh, tương ứng với bản tính con người, vì bản
    tính con người tuy được quy định bởi lý tính nhưng cũng còn bởi bản tính tự nhiên
    (nature) nữa. Ông chống lại xã hội đương thời, vì nó dựa vào lý tính để đè nén bản
    tính tự nhiên của con người. Nhưng, ông chống lại cũng bằng cách dựa vào lý tính
    để giải phóng bản tính con người ra khỏi những xiềng xích ấy.
    Bài Luận văn thứ hai (1754)
    Năm 1754, viện Hàn lâm Dijon lại thông báo một cuộc thi viết khác, với đề
    tài: Đâu là nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa con người và phải chăng nó
    được biện minh bằng pháp quyền tự nhiên? Ngụ ý của đề tài: Những sự bất bình
    đẳng xã hội (tầng lớp, giai cấp...) không gì khác hơn là Sự thể hiện ra bên ngoài
    của những sự bất bình đẳng tự nhiên (như chiều cao và sức mạnh). Đó là một ấn ý
    khiến Rousseau phẫn nộ. Ông thuật lại: “Suốt ngày tôi lang thang trong rừng, hét
    to cho mình nghe: “Hỡi bọn người điên khùng không ngừng trách móc tự nhiên,
    hãy biết rằng mọi tội lỗi của các người đều do chính bản thân các người gây ra!”
    Bài Luận văn thứ hai cho thấy Rousseau là một triết gia đích thực chứ không
    chỉ là một “thí sinh viết luận văn”. Bài viết phức tạp, khó đọc vì đề cập nhiều đến
    các triết gia chính trị khác như Grotius, Locke và Hobbes chung quanh vấn đề
    “bản tính con người”. Ta biết rằng một giả thuyết về “bản tính con người” thường

    6

    là một bộ phận không thể thiếu của bất kỳ học thuyết chính trị nào. Xã hội gồm
    những con người, vì thế thật dễ hiểu khi người ta bắt đầu với việc tìm hiểu cái
    “vật liệu tạo nên xã hội. Nhưng, ngay các triết gia Hy Lạp cổ đại như Protagoras
    (490-420 trước CN) đã sớm nhận ra rằng các xã hội loài người quá phức tạp và dị
    biệt, nên dường như không có một “bản tính người” bền vững hay cố định.
    Aristoteles thì cho rằng con người “về bản chất” là sinh vật xã hội, vì thế chỉ hoàn
    hảo và hạnh phúc khi trở thành những người công dân tốt. Các “triết gia hiện đại”
    như Machiavelh (l469-l527) và Hobbes (l588-l679) không đồng ý. Machiavelli:
    Con người là ích kỷ và luôn hành xử xấu xa trừ khi bị Pháp luật và các định chế
    chính trị hùng mạnh cường chế. Hobbes: Con người sở dĩ chịu phục tùng quyền
    uy tuyệt đối của chính quyền chỉ là vì cần sự bảo vệ trước sự uy hiếp thưởng trực
    giữa những con người với nhau. Rousseau có cái nhìn khác so với các học thuyết
    “duy bản chất” ấy. Với ông, “bản tính tự nhiên” của con người quá độc đáo, đơn
    nhất nên không thể nói về “bản tính người” nói chung. Con người có một lịch sử.
    Họ đã biến đổi từ một trạng thái này (như là những động vật linh trưởng cô độc,
    đơn giản và “hồn nhiên vô tội”) đến một trạng thái khác (những con người-xã hội
    phức tạp, được văn minh hóa như chúng ta ngày nay). Các xã hội đã tạo ra con
    người không khác gì chính con người đã tạo ra các xã hội khác nhau. Vậy, con
    người lẫn xã hội đều luôn tiến hóa thành cái gì khác với trước, và những biến đổi
    xã hội nào đến muộn hơn, thì càng có ảnh hưởng mạnh hơn. Nói cách khác, con
    người, theo Rousseau, là hết sức “mềm dẻo”, đều bị “uốn nắn”, nên chỉ có thể có
    “những bản tính con người khác nhau mà thôi (quan niệm về tính mềm dẻo của
    bản tính con người và về mối quan hệ của nó với thế giới xã hội và văn hóa của
    Rousseau đã có ảnh hưởng lớn đến Hegel và Marx). Ở đây, ta nên dành một trang
    để điểm lại ngắn gọn một số luận điềm chủ yếu của ông:
    -Trạng thái tự nhiên: Nếu mọi xã hội đều khác nhau, thì có nghĩa rằng chúng
    đều giả tạo và không có gì là “tự nhiên” cả. Cũng có nghĩa rằng con người “tự
    nhiên” hay tiền-xã hội đã từng tồn tại trong một “trạng thái tự nhiên” rất xa xưa
    trước khi xã hội và chính trị được thành lập. Ý tưởng về một “trạng thái tự nhiên”
    thường được các triết gia chính trị dùng để mô tả thế giới tiền-xã hội. Với Hobbes,
    “trạng thái tự nhiên” luôn là một trạng thái chiến tranh với sự hăm dọa thường
    trực. Locke thì lạc quan hơn: Trạng thái tự nhiên bao gồm những con người có tư
    hữu chỉ có điều những quyền tư hữu hay những nghĩa vụ dân sự chưa được xác
    định rõ ràng. “Trạng thái tự nhiên” của Rousseau thì phức tạp hơn, mang nặng
    màu sắc nhân loại học và chỉ có ý nghĩa lý thuyết và giả tưởng.
    -Pháp quyền tự nhiên: Đề tài của Viện Hàn lâm nhắc đến “pháp quyền tự
    nhiên”. Vậy, nó là gì Grotius và Pufendorf cho rằng có những “quy luật hay pháp
    quyền tự nhiên” phổ biến luôn luôn đúng và có hiệu lực độc lập với những quy
    điều pháp luật của xã hội. Chúng được rút ra từ bản tính tự nhiên của con người.
    Rousseau khéo léo tránh nói về “pháp quyền tự nhiên” vì ông không tin vào một

    7

    “bản tính tự nhiên” bất biến, cố định của con người. Trước hết, thế nào là “bản
    tính tự nhiên”? Với Aristoteles, đó là cái gì thuộc bản chất của sự vật chứ không
    phải giả tạo hay tùy thuộc (chẳng hạn, nơi con người, thở, đi... là “tự nhiên”, khác
    với việc có chiếc mũi thật đẹp hay đôi chân thật dài). Rousseau hiểu khác: “tự
    nhiên” là không bị ô nhiễm bởi xã hội giả tạo!
    -Con người tự nhiên: Theo Rousseau, bản tính tự nhiên nguyên thủy của con
    người là “tốt”, nhưng bị xã hội giả tạo làm cho đồi bại đi. Có nghĩa: Bên trong
    mỗi con người hiện đại đều lưu lại dấu vết của một bản ngã thiện hảo hơn của thời
    xa xưa. Nhưng, ta lại không thể nào mô tả chính xác “con người tự nhiên” nguyên
    thủy ấy, vì, giống như bức tượng được vớt lên từ đáy biến, bị xói mòn và bám đầy
    rong rêu, ta không thể thấy rõ được “bản lai diện mục” của “con người tự nhiên”
    hiểu như sự thật lịch sử mà chỉ như là giả thuyết cho việc nghiên cứu triết học:
    “không thể biết rõ về một trạng thái không còn tồn tại hay có thể đã và sẽ không
    bao giờ tồn tại” mà chỉ có thể phỏng đoán dựa vào một số dấu vết hiển nhiên,
    chẳng hạn nơi các bộ lạc nguyên thủy còn sót lại hay nơi cách hành xử của các
    loài linh trưởng cấp cao. Trái với cái nhìn bi quan của Hobbes, họ có thể đã là
    những con người sống cô độc và giản dị, yêu hòa bình, không gia đình hay của
    cải, và nhất là không có ý niệm gì về tài sản, sự công bằng, sự chăm chỉ hay chiến
    tranh. Nói cách khác, họ là những con người tiền-luân lý, và hạnh phúc hơn chúng
    ta ngày nay. Cũng trái với quan niệm lạc quan của Grotius rằng họ vẫn có óc hợp
    quần và hợp lý, Rousseau cho rằng họ không có ngôn ngữ và chỉ có những ý
    tưởng đơn giản dựa trên những cảm giác trực tiếp. Họ là “tốt” và “hồn nhiên” theo
    nghĩa thụ động là không làm điều gì nguy hại. Họ chưa có cách hành xử văn minh
    với tư duy logic hay sự hợp tác. Do đó, không thể rút ra những “pháp quyền tự
    nhiên” từ “bản tính tự nhiên” của họ được.
    -Con người hiện đại và xã hột hiện đại: Khí hậu thay đổi, dân số gia tăng đã
    tập hợp họ lại thành những bộ lạc, dần định cư, bắt đầu lưu ý đến nhau và sự so
    sánh đã dẫn đến lòng ghen tị, sự bất bình đẳng, sự kiêu ngạo hay quy lụy. Vậy
    định chế tài sản hay sự bất bình đẳng xã hội không phải là những gì “tự nhiên”,
    “không thể tránh được” mà bắt nguồn từ những sự lựa chọn trong quá khứ được
    hợp thức hóa bằng những “khế ước” xã hội và chính trị. Khác với Locke, “con
    người tự nhiên” của Rousseau thoạt đầu không biết gì về tài sản hay “luật pháp”.
    Chính một thiểu số khôn ngoan, ranh mãnh đã dụ dỗ số đông tham gia vào một
    “Khế ước xã hội” để bảo đảm sự an ninh và sự thống trị của pháp luật. Nhờ đó,
    người giàu chiếm hữu và làm cho mọi người khác nghèo đi. Quan hệ xã hội trở
    thành quan hệ chủ nô.
    -Chọn con đường khác: Rousseau đồng ý với việc dùng “khế ước xã hội” để lý
    giải nguồn gốc của xã hội và chính quyền, nhưng ông cho rằng “khế ước” như thế
    luôn sai lầm và nay không còn hiệu lực ràng buộc nữa. Khác với con vật con
    người có năng lực tự giác và vì thế, là tự do, nên nếu đã có thể biến “trạng thái tự

    8

    nhiên” thành “trạng thái đồi bại” thì từ nay cũng có thể thay đổi vận mệnh của
    chính mình. Mọi việc phải và có thể được thay đổi!
    Lần này, Rousseau không chỉ không được nhận giải mà còn chuốc lấy sự giận
    dữ và thù địch của hầu hết các “philosophes “ vốn từng sát cánh bên nhau.
    Voltaire viết cho Rousseau: “Thưa ông, tôi đã nhận được quyển sách mới của ông
    chống lại loài người và xin “méc xì” ông... Chưa bao giờ nhiều sự thông minh đến
    như thế đã được dùng để làm cho con người trở nên ngu xuẩn. Khi đọc nó, người
    ta chỉ còn muốn bò bằng bốn chân mà thôi!”. Tình bạn đã bị đổ vỡ, nhưng tượng
    đài sừng sững của một cách suy nghĩ “khác” đã ra đời: Rousseau lánh xa Paris, rút
    vào an cư và tiếp tục viết...
    Năm 1762, Rousseau công bố tác phẩm chính trị quan trọng nhất của mình:
    Về khế ước xã hội (Du contratsocial). Câu đầu tiên: “Con người sinh ra tự do, và
    đâu đâu cũng bị ở trong xiềng xích”.
    Nhưng, nếu đã thế, nếu sự mất tự do không phải do tự nhiên (hay Thượng đế)
    tạo ra thì nó là sản phẩm của chính con người do đã xa rời và tự tha hóa khỏi trạng
    thái nguyên thủy. Và vậy thì, cũng chính con người (chứ không phải chờ đến kiếp
    sau) phải tự giải phóng chính mình (chứ không thể ngồi chờ Thượng để giải thoát
    cho)! Không sức mạnh nào khác hơn sức mạnh của chính lý tính có thể hàn gắn
    lại những gì đã đổ vỡ. Thế nhưng, để làm điều đó, lý tính cần có một thước đo,
    một chuẩn mực mà nó luôn có thể quy chiếu chứ không thể tùy tiện đặt ra: “ bản
    tính tự nhiên” của con người. Với Rousseau, đó là sự tự do nguyên thủy, không
    phải đạt được bằng lý tính tính toán mà bằng sự thoát ly khỏi sự ô nhiễm của xã
    hội; và đó là sự tự do của CON NGƯỜI, tức của bất kỳ một con người nào chứ
    không chỉ của những thành viên nhất định của một tầng lớp nhất định được ưu đãi
    vì nguồn gốc xuất thân.
    2. Bản tính tự nhiên và giáo dục
    Tác phẩm Émile hay là về g
     
    Gửi ý kiến

    Một cuốn sách hay có thể làm thay đổi suy nghĩ; nhiều cuốn sách hay có thể làm thay đổi cả cuộc đời

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TH NAM VIÊM- PHÚ THỌ !

    HOA